Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày 18 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÓ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Phòng và bà Phan Thị Tuyết

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 1288/TB-TA ngày 08/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng N; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28/9/1994 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn phổ thông: 10/12; con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1959 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1970; Vợ: Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1993; Con: 01 người sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không.

Quá trình bản thân: ngày 06/6/2011, thực hiện hành vi đánh nhau bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; ngày 12/7/2011, thực hiện hành vi đánh nhau, bị Công an huyện B xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng; ngày 05/01/2016 bị Công an thị trấn H xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền 750.000đ theo Quyết định số 42/QĐ-XPHC; ngày 10/4/2020, bị Công an phường Đ, thành phố Đ xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 750.000đ theo Quyết định số 7773/QĐ- XPHC. Các quyết định xử phạt đều đã thi hành xong.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ tại Trại tạm giam công an tỉnh Q từ ngày 17/01/2024 đến ngày 26/01/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Cấm đi khỏi nơi cư trú, Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 26/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Hồ Tiến Đ, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Bà Trần Thị T, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số F đường N, Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Ông Lê Xuân D, sinh năm 1980; Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Ông Phan Văn K, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Ông Hoàng Trọng T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt;
  • - Bà Trần Thị Thúy N1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 10 năm 2023, Nguyễn Hoàng N đã cho 07 người vay lãi nặng cụ thể như sau:

  1. Ngày 31/12/2021, Nguyễn Hoàng N cho Nguyễn Hồng P vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/ngày, 10 ngày trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói và không thỏa thuận về thời hạn vay. N giao tiền vay bằng tiền mặt trực tiếp cho P. Quá trình vay, P đã trả lãi cho N 06 lần, tính đến ngày 13/3/2022 là 72 ngày, tổng số tiền 18.000.000 đồng. Từ ngày 13/3/2022, P xin giảm lãi suất xuống 3.000đ/1.000.000đ/ngày, đã trả lãi 25 lần từ ngày 13/3/2022 đến 08/12/2022 là 267 ngày, với tổng số tiền 40.000.000 đồng. Tổng tiền lãi P đã trả cho N là 58.000.000đ. Từ 08/12/2022 đến 20/10/2023, vì không còn khả năng để trả tiền lãi, P xin N trả tiền gốc và được N đồng ý không tính tiền lãi. Tiền lãi 20% theo quy định là 9.287.671đ, tiền thu lợi bất chính 48.712.329đ, lãi suất cho vay 5.000đ/1.000.000đ/ngày là 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự; lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày là 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Đến ngày 20/10/2023, P đã trả xong tiền gốc cho Nguyễn Hoàng N.
  2. Nguyễn Hoàng N cho Võ Thị Thu H vay 3 lần, tổng số tiền vay 20.000.000đ, cụ thể:

    Ngày 13/02/2023, N cho H vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/ngày, 10 ngày trả lãi một lần, Nam thu lãi trước 500.000đ và dùng số tài khoản 0311000666020 tên Tran Thi Thuy N2 (vợ của N) mở tại Ngân hàng V1 chuyển khoản vào số tài khoản 8804567888 của H mở tại Ngân hàng V2 số tiền 9.500.000 đồng.

    Ngày 01/3/2023, H vay thêm 5.000.000 đồng, N thu lãi trước 600.000đ và chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 7399999973 của N mở tại Ngân hàng V2 đến số tài khoản 8804567888 của H mở tại Ngân hàng V2 4.400.000 đồng.

    Đến ngày 09/3/2023, H vay thêm 5.000.000 đồng, N thu lãi trước 850.000 đồng và chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 7399999973 của N mở tại Ngân hàng V2 đến số tài khoản 8804567888 của H mở tại Ngân hàng V2 4.150.000 đồng, H viết “Giấy mượn tiền” 20.000.000 đồng đưa N giữ, sau đó N đã vứt đi do bị ướt.

    Quá trình vay, H đã trả lãi đến ngày 11/10/2023 với tổng số tiền 24.950.000 đồng. Từ sau ngày 11/10/2023, vì không còn khả năng để trả tiền nên H đã gọi cho N để xin trả tiền gốc và được N đồng ý không thu tiền lãi.

    Tổng tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất do pháp luật quy định (20%) là 2.734.247đ, tiền thu lợi bất chính 22.215.753đ, lãi suất cho vay là 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện H chưa trả tiền gốc cho N.

  3. Ngày 12/4/2023, Nguyễn Hoàng N cho Lê Xuân D vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 4.000đ/1.000.000đ/ngày, một tháng trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn vay. N cắt lãi trước 2.500.000 đồng rồi chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 7399999973 của N mở tại Ngân hàng V2 đến số tài khoản 3801215026689 của D mở tại Ngân hàng A 22.500.000 đồng. Quá trình vay, D đã trả lãi đến ngày 13/9/2023 là 154 ngày với số tiền 15.350.000 đồng. Tiền lãi theo quy định 20% là 2.109.589đ, tiền thu lợi bất chính 13.240.411đ, lãi suất cho vay là 164%/năm, gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện D chưa trả tiền gốc cho N.
  4. Ngày 04/5/2023, Nguyễn Hoàng N cho Phan Văn K vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/ngày, một tháng trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn vay. N thu lãi trước 1.000.000 đồng rồi chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 0311000731115 của N mở tại Ngân hàng V1 đến số tài khoản 3801205526882 của K mở tại Ngân hàng A số tiền 19.000.000 đồng. Quá trình vay, K đã trả cho N tiền lãi đến ngày 21/8/2023 là 110 ngày, với tổng số tiền 11.000.000 đồng. Tiền lãi 20% theo quy định là 1.255.603 đồng, tiền thu lợi bất chính 9.744.397 đồng, lãi suất cho vay là 182,5%/năm, gấp 9.125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện K chưa trả tiền gốc cho N.
  5. Ngày 16/7/2023, Nguyễn Hoàng N cho Trần Thị T vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 3.000đ/1.000.000đ/ngày, 10 ngày trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn vay. N đưa tiền vay bằng tiền mặt trực tiếp cho T. Quá trình vay, T đã trả lãi đến ngày 12/01/2024 là 180 ngày, với tổng số tiền 10.800.000 đồng. Tiền lãi 20% theo quy định là 1.972.603 đồng, tiền thu lợi bất chính 8.827.397 đồng, lãi suất cho vay là 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện T chưa trả tiền gốc cho N.
  6. Ngày 31/8/2023, Nguyễn Hoàng N cho Hồ Tiến Đ vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, 30 ngày trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói và không thỏa thuận về thời hạn vay. N chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 7399999973 của N mở tại Ngân hàng V2 đến số tài khoản 040096372126 của Đ mở tại Ngân hàng S. Quá trình vay, Đ đã trả lãi cho N 04 (bốn) lần, tính đến ngày 29/12/2023 là 120 ngày với tổng số tiền 6.000.000 đồng. Tiền lãi 20% theo quy định là 657.534 đồng, tiền thu lợi bất chính 5.342.466 đồng, lãi suất cho vay là 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện Đ chưa trả tiền gốc cho Nguyễn Hoàng N.
  7. Ngày 11/10/2023, Nguyễn Hoàng N cho Hoàng Trọng T1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/ngày, 20 ngày trả lãi một lần, việc vay tiền thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận về thời hạn vay. N chuyển khoản tiền vay từ số tài khoản 7399999973 của N mở tại Ngân hàng V2 đến số tài khoản 5311176162 của T1 mở tại Ngân hàng B. Quá trình vay, T1 đã trả cho N lãi đến ngày 30/12/2023 là 80 ngày lãi với tổng số tiền 4.000.000 đồng. Tiền lãi 20% theo quy định là 438.356 đồng, tiền thu lợi bất chính 3.561.644 đồng, lãi suất cho vay là 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự. Hiện T1 chưa trả tiền gốc cho N.

Tổng số tiền Nguyễn Hoàng N đã cho 07 người vay, trong 09 lần là 155.000.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu đồng), tổng tiền lãi đã thu là 130.150.000đ (một trăm ba mươi triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó thu lợi bất chính 111.694.397 đồng (một trăm mười một triệu sáu trăm chín mươi bốn ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, dung lượng 64 GB, màu vàng, IMEI 356116096783885 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, dung lượng 128 GB, màu xanh, IMΕΙ 1: 359173738363458, IMEI 2: 359173737753535, hiện chưa xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 40/CT - VKSBT ngày 25/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố Nguyễn Hoàng N ra trước Toà án nhân dân huyện Bố Trạch để xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự như đã nêu trên, và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ – HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền gốc 155.000.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu đồng) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự) là 18.455.603 đồng. Tuy nhiên, do 06 người vay chưa trả tiền gốc cho bị cáo và bị cáo đã trả lại phần lớn số tiền lãi đã thu cho những người liên quan, trong đó bao gồm cả tiền lãi tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự, nên cần buộc những người liên quan chưa trả gốc phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền gốc đã vay của bị cáo và hoàn trả số tiền lãi trong mức quy định của Bộ luật dân sự để sung vào Ngân sách Nhà nước tương ứng với số tiền họ đã nhận lại từ bị cáo. Đối với số tiền lãi bị cáo đã thu của những người liên quan vượt quá mức lãi suất do Bộ luật dân sự, cần trả lại cho người vay, nhưng họ đã nhận lại và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét lại.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản cáo trạng, đồng ý với lời phát biểu luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Lời nói lời sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có điều kiện cải tạo tại địa phương, sớm hoà nhập cộng đồng và làm ăn lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên toà vắng mặt tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng những người này đã được Toà án gửi giấy triệu tập đến phiên toà hợp lệ và đều có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Riêng Trần Thị Thúy N1 vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Xét tất cả những người liên quan đều đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không cản trở việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người nói trên.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo: xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 10 năm 2023, Nguyễn Hoàng N đã cho 07 người vay lãi nặng tổng số tiền vay là 155.000.000 đồng với mức lãi suất thấp nhất là 109,5%/năm, cao nhất là 182,5%/năm, vượt gấp 5,475 lần đến 9,125 lần quy định tại Bộ luật dân sự, tổng số tiền lãi đã thu là 130.150.000đ, trong đó thu lợi bất chính số tiền 111.694.521 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra trong vụ án, thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi cho người khác vay tiền và thu lãi trên gấp 5 lần mức lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do hám lợi và coi thường pháp luật, bị cáo đã cho 7 người vay trong 9 lần để thu lợi bất chính số tiền 111.694.521 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng, mà còn trực tiếp xâm phạm đến lợi ích kinh tế của công dân. Do đó, cần có một hình phạt đủ nghiêm, phù hợp với tính chất của loại tội phạm này cũng như phù hợp với mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Về tình tiết tăng nặng, Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã chủ động trả lại cho những người liên quan gần như toàn bộ số tiền lãi bị cáo đã thu và được những người liên quan làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi xem xét về hình phạt.

Về nhân thân, bị cáo đã từng 4 lần bị xử phạt hành chính về các hành vi khác nhưng đều đã thi hành xong và tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là đã quá thời hạn 01 năm nên được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

[5] Về hình phạt chính: Xét tang số phạm tội của bị cáo chỉ trên mức khởi điểm của khung hình phạt được áp dụng không nhiều, sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã chủ động trả lại gần như toàn bộ số tiền lãi đã thu cho những người liên quan và được những người này làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Điều kiện gia đình của bị cáo đang có 01 con nhỏ sinh năm 2024, vợ không có nghề nghiệp tạo thu nhập ổn định, bị cáo có nơi cư trú ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51, nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện cải tạo tại địa phương, nuôi sống gia đình và con nhỏ là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét việc bị cáo được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên để bổ trợ thêm cho hình phạt chính nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung thấy cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm (Biện pháp tư pháp): Xét số tiền gốc bị cáo đã cho vay 155.000.000 đồng (một trăm năm mươi lăm triệu đồng) là phương tiện phạm tội và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự) là 18.455.603 đồng là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, do 06 người vay chưa trả tiền gốc cho bị cáo và bị cáo đã trả lại phần lớn số tiền lãi đã thu cho những người liên quan, trong đó bao gồm cả tiền lãi tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự, nên cần buộc bị cáo phải nộp lại tiền gốc đã nhận và tiền lãi trong mức quy định của Bộ luật dân sự đã thu của người vay. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa trả gốc phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền gốc đã vay của bị cáo và hoàn trả số tiền lãi trong mức quy định của Bộ luật dân sự được bị cáo trả lại để sung vào Ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:

Nguyễn Hoàng N phải nộp số tiền gốc 50.000.000 đồng Nguyễn Hồng P đã trả cho bị cáo và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự) mà bị cáo đã thu của người vay là: 10.287.671 đồng (trong đó 9.287.671 đồng thu của Nguyễn Hồng P; 1.000.000 đồng thu của Phan Văn K). Tổng số tiền buộc bị cáo phải nộp để sung Ngân sách Nhà nước là 60.287.671 đồng.

Võ Thị Thu H phải nộp lại số tiền vay 20.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 2.734.247 đồng, tổng cộng: 22.734.247 đồng.

Ông Lê Xuân D phải nộp lại số tiền vay 25.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 2.109.589 đồng, tổng cộng: 27.109.589 đồng.

Ông Phan Văn K phải nộp lại số tiền vay 20.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 255.603 đồng, tổng cộng: 20.255.603 đồng.

Trần Thị T phải nộp lại số tiền vay 20.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 1.972.603 đồng, tổng cộng: 21.972.603 đồng.

Ông Hồ Tiến Đ phải nộp lại số tiền vay 10.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 657.534 đồng, tổng cộng: 10.657.534 đồng.

Ông Hoàng Trọng T1 phải nộp lại số tiền vay 10.000.000 đồng và lãi trong hạn mức đã nhận lại từ Nguyễn Hoàng N 438.356 đồng, tổng cộng: 10.438.356 đồng.

Đối với số tiền lãi bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vượt quá mức lãi suất do Bộ luật dân sự quy định cần trả lại cho người vay, nhưng người này đã nhận lại đủ và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét lại.

[8] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 Plus, dung lượng 64 GB, màu vàng, IMEI 356116096783885 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, dung lượng 128 GB, màu xanh, IMEI 1: 359173738363458, IMEI 2: 359173737753535, là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Các vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bố Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bố Trạch.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

[7] Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/7/2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh QB;
  • - VKSND tỉnh QB;
  • - PV 06 (Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CAQB);
  • - VKSND huyện BT;
  • - Công an huyện BT;
  • - Cơ quan THAHS Bố Trạch;
  • - Chi cục THABT;
  • - UB thị trấn Hoàn Lão, huyện Bố Trạch;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu AV;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Lê Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA NGUYỄN HOÀNG N - K2 DD201 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger