Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 30/08/2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Võ Trọng Thơi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với:

Bị cáo Huỳnh Thị Huy T, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06/11/1997 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; NKĐHKTT: thôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ở hiện nay: B N, tổ I, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số thẻ CCCD: [...], cấp ngày 02/7/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C cấp ; nghề nghiệp: thợ may; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Q và bà Nguyễn Thị T1; chồng Trần Văn T2 và con Trần Văn N; Tiền án: không. Tiền sự: không.

Quá trình nhân thân: còn nhỏ sống với bố mẹ ở xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế học hết lớp 9/12 thì nghỉ học, sau đó lập gia đình làm nghề thợ may cho đến ngày gây án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 22/4/2024 cho đến nay tại xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 2000; địa chỉ: tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Huy T:

+ Bà Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1987; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị Phương N1, sinh năm: 2008; Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

+ Ông Trần Văn T2, sinh năm: 1995; Địa chỉ: Tổ I, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 8/2023, Huỳnh Thị Huy T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 2000, trú tại tổ G, phường T, thị xã H (T có quen biết với anh Q1). Thục sử dụng tài khoản facebook “Lê M” (tài khoản này T được một người tên T3 không rõ nhân thân lai lịch cho), nhắn tin kết bạn với tài khoản facebook tên “Quang Nguyễn” của anh Q1; sau đó, T sử dụng tài khoản facebook “huỳnh thục” của T nhắn tin cho anh Q1 giả vờ giới thiệu facebook “Lê My” là của một người đồng nghiệp cũ của T muốn kết bạn với anh Q1 và nói Q1 kết bạn để tìm hiểu, làm quen (anh Q1 chưa kết hôn); anh Q1 tin tưởng nên đã kết bạn với tài khoản “Lê My”, sau đó anh Q1 và “Lê M” nhắn tin qua lại với nhau.

Đến ngày 06/8/2023, thấy anh Q1 đã có tình cảm và tin tưởng với “Lê M” nên T dùng tài khoản facebook “Lê M” nhắn tin với anh Q1 là mình làm sai lệch tiền hóa đơn xuất kho nên phải đền tiền cho công ty và hỏi mượn tiền của anh Q1, anh Q1 đồng ý. Thục nhắn tin số tài khoản: 0833441345 Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Q2 (MB) của chị Nguyễn Thị Phương N1, sinh ngày 11/3/2008, trú tại thôn H, xã D, thị xã H (chị họ của T) cho anh Q1 và nói dối với anh Q1 là số tài khoản của kế toán công ty để anh Q1 chuyển tiền; T còn nhắn tin số tài khoản: 1013658553 Ngân hàng TMCP N2 (V) của T cho anh Q1 và nói dối với anh Q1 là “Lê M” đang nhờ Thục điều chỉnh hóa đơn; anh Q1 nhắn tin hỏi T thì T nói đang điều chỉnh hóa đơn cho “Lê My”; do vậy anh Q1 tin tưởng nên trong khoảng thời gian từ 6/8/2023 đến 11/8/2023, đã chuyển tiền cho T nhiều lần, cụ thể như sau:

  • Lúc 8 giờ 32 phút ngày 6/8/2023, anh Q1 chuyển số tiền 1.500.000 đồng cho T (vào tài khoản N1). Đến 20 giờ 33 phút cùng ngày, anh Q1 chuyển số tiền 4.200.000 đồng cho T (vào tài khoản N1).
  • Lúc 8 giờ 46 phút ngày 9/8/2023, anh Q1 chuyển số tiền 1.500.000 đồng cho T (vào tài khoản Thục). Đến 18 giờ 23 phút cùng ngày, anh Q1 chuyển số tiền 2.000.000 đồng cho T (vào tài khoản Thục).
  • Lúc 20 giờ 33 phút ngày 10/8/2023, anh Q1 chuyển số tiền 1.000.000 đồng cho T (vào tài khoản Thục).
  • Lúc 9 giờ 19 phút ngày 11/8/2023, anh Q1 chuyển số tiền 1.000.000 đồng cho T (vào tài khoản Thục).

Tổng số tiền T đã chiếm đoạt của anh Q1 là 11.200.000 đồng.

Đến khoảng tháng 10/2023, anh Q1 phát hiện T đã sử dụng facebook giả nói trên để lừa yêu mình nên yêu cầu T trả tiền nhưng T không trả, sau đó anh Q1 trình báo cơ quan Công an

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Huỳnh Thị Huy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu xanh đã qua sử dụng, có số Imei 1: 354402101253920; Imei 2: 354403101253928, có gắn sim số thuê bao 0789452993.

Về trách nhiệm dân sự: anh Q1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 11.200.000 đồng, hiện bị cáo T đã bồi thường được số tiền 5.000.000 đồng

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS-HTh ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Huy T về tội: “Lừa đào chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Huy T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174; Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Huy T 09 (chín) tháng đến 12 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu xanh đã qua sử dụng, có số Imei 1: 354402101253920; Imei 2: 354403101253928, có gắn sim số thuê bao 0789452993 là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị Huy T: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật để cho bị cáo hưởng mức án là 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Thị Huy T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có cơ sở để kết luận: trong khoảng thời gian từ ngày 06/8/2023 đến ngày 11/8/2023, tại phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Huỳnh Thị Huy T đã có hành vi nhiều lần (02 lần) lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn Q1. Cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 06/8/2023, lừa đảo chiếm đoạt của anh Q1 số tiền: 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm ngàn đồng).
  • Lần 2: Ngày 09/8/2023, lừa đảo chiếm đoạt của anh Q1 số tiền: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngoài ra ngày 10/8/2023 và ngày 11/8/2023, T còn lừa đảo chiếm đoạt của anh Q1 tổng số tiền 2.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Huy T theo Cáo trạng số 45/CT-VKS-HTh ngày 19/7/2024 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động, tham lam nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản cá nhân được Nhà nước bảo hộ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Thị Huy T phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, tại thời điểm phạm tội bị cáo đang mang thai, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo thuộc hộ cận nghèo, gia đình khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Huỳnh Thị Huy T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy là phù hợp. Như vậy, cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: anh Q1 yêu cầu T phải bồi thường số tiền 11.200.000 đồng, hiện T đã bồi thường được số tiền 5.000.000 đồng. Anh Q1 yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh Q1 là 6.200.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý nhưng chưa có tiền bồi thường. Do đó, cần công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 6.200.000 đồng cho anh Nguyễn Văn Q1.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu xanh đã qua sử dụng, có số Imei 1: 354402101253920; Imei 2: 354403101253928, có gắn sim số thuê bao 0789452993là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[9] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Huy T thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b,n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Huy T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Huy T 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( Ngày 30/8/2024).

Giao bị cáo Huỳnh Thị Huy T cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự

Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại: Buộc bị cáo Huỳnh Thị Huy T phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn Q1 số tiền 6.200.000 đồng ( Sáu triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J6 màu xanh đã qua sử dụng, có số Imei 1: 354402101253920; Imei 2: 354403101253928, có gắn sim số thuê bao 0789452993

(Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Huỳnh Thị Huy T được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Huế;
  • - VKSND Thành phố Huế
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tx Hương Thủy;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Huy T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger