|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:48/2024/HS-ST Ngày: 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Hồng Thông.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa trực tiếp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST - HS ngày 22/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Quang T, (tên gọi khác: không); sinh ngày 29 tháng 11 năm 2001 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Quang T1, sinh năm 1974 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến nay. (có mặt)
Bị hại: chị Trần Thị M, sinh năm 1995. (có mặt)
Trú tại: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 9 năm 2023, Phùng Quang T mua của một người tự xưng là Nguyễn Văn C, sinh năm 2000, trú tại tỉnh Quảng Nam một trang mua bán phần mềm định vị trên ứng dụng Facebook và một trang web kiemsoatdienthoai247.com. T và C thỏa thuận cùng nhau lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngày 23/9/2023, chị Trần Thị M sử dụng tài khoản facebook “Minh Tran Minh Tran” tìm hiểu trên ứng dụng facebook về việc mua phần mềm định vị, đọc trộm tin nhắn. Khi bấm vào mục nhắn tin trên trang facebook của Phùng Quang T thì T nhắn tin lại để tư vấn cho chị M cách làm hồ sơ, thủ tục để mua phần mềm. Phùng Quang T sử dụng số điện thoại 0961.474.xxx và tài khoản Zalo tên “Hoàng Q” để liên lạc với chị M. Sau khi chị M đồng ý mua hàng, T yêu cầu chị M chuyển tiền vào số tài khoản 109879139872, ngân hàng V1, mang tên PHUNG QUANG TAN để đặt cọc. Vì tin tưởng nên chị M đã chuyển khoản 08 lần với tổng số tiền là 51.800.000 đồng (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó, chị M nghi ngờ bị lừa nên yêu cầu hủy dịch vụ và muốn nhận lại số tiền đã chuyển thì T yêu cầu chị M liên hệ với bộ phận kế toán. Lúc này, Nguyễn Văn C gọi điện thoại cho chị M và tự xưng là người ở bộ phận kế toán, cung cấp thông tin tài khoản số 0876458584, ngân hàng S, mang tên NGUYEN ANH TU để chị M chuyển tiền phí hủy dịch vụ. Chị M tin tưởng nên đã chuyển 16 lần tiền đến số tài khoản này với tổng số tiền là 225.600.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng). Mỗi lần chuyển tiền đến tài khoản NGUYEN ANH TU, chị M đều gửi hình ảnh giao dịch thành công cho T được biết. Sau khi chiếm đoạt được tiền, T và C chặn liên lạc với chị M, đồng thời Nguyễn Văn C sử dụng tài khoản 35932147, ngân hàng A, mang tên TRAN VAN VIET, chuyển đến số tài khoản 109879139872 cho T 123.000.000 đồng (một trăm hai mươi ba triệu đồng). T đã chuyển hai lần, một lần 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và một lần 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) vào số tài khoản 107868741066, ngân hàng V1, mang tên PHUNG THỊ HONG của chị Phùng Thị H1 (sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc – là chị gái của T) để nhờ H1 rút tiền mặt. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. (BL 31 – 52, 57 – 70, 90, 131)
Ngày 26/9/2023, chị Trần Thị M làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D.
Ngày 19/11/2023, Phùng Quang T đến Công an huyện D đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng thu giữ:
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương, số Imei 353510600991450, bên trong có số thuê bao 0828934444, thu giữ của Phùng Quang T.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho chị Trần Thị M số tiền 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm nghìn đồng). Chị M không có yêu cầu thêm gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSDC-HS ngày 22/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Phùng Quang T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phùng Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa chị Trần Thị M khai nhận: Chị M đã chuyển cho bị cáo T số tiền 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng) như lời trình bày của bị cáo. Hiện gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị M nên chị không yêu cầu gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Phùng Quang T từ 27 (hai mươi bảy) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương, số Imei 353510600991450, bên trong có số thuê bao 0828934444, thu giữ của Phùng Quang T. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở xác định: Trong các ngày từ ngày 23/9/2023 đến ngày 25/9/2023, bằng thủ đoạn gian dối, Phùng Quang T đã trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Trần Thị M số tiền 51.800.000 đồng. Phùng Quang T cùng Nguyễn Văn C đã lừa đảo chiếm đoạt của chị M số tiền 225.600.000 đồng, T được hưởng lợi 123.000.000 đồng. Vì vậy, Phùng Quang T phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền chiếm đoạt của bị hại 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Phùng Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, bởi lẽ quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên một cách trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý, tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra. Bị cáo Phùng Quang T có đầy đủ nhận thức về điều đó, T không có nghề nghiệp ổn định muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng) của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó, việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo T để xử lý nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ tài sản cho bị hại; bị cáo được UBND xã H, huyện T tặng Giấy khen “Đã có thành tích xuất sắc trong tình nguyện nhập ngũ năm 2021"; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sụ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[6] Về quyết định hình phạt:
[6.1] Về hình phạt chính đối với bị cáo: Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Lần phạm tội này bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng) cho bị hại, vì vậy ngoài việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt truy tố như đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, tuy nhiên cũng cần tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự. Bị cáo và gia đình đã bồi thường đầy đủ cho chị Trần Thị M số tiền 277.400.000 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm ngàn đồng); chị M không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương, số Imei 353510600991450, bên trong có số thuê bao 0828934444, thu giữ của Phùng Quang T liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về những vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với Nguyễn Văn C (theo lời khai của T) là người cùng với T thực hiện hành vi phạm tội đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Phùng Thị H1, chị H1 không biết số tiền mà Tân chuyển là do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phùng Thị H1 là có căn cứ.
Qua xác minh, số tài khoản 0876458584, ngân hàng S, mang tên NGUYEN ANH TU là của Nguyễn Anh T2, sinh năm 1995, trú tại thôn X, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Hiện T2 không có mặt tại địa phương đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.
Đối với số tài khoản 35932147, ngân hàng A, mang tên TRAN VAN VIET là của Trần Văn V, sinh năm 1988, trú tại thôn K, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Theo lời khai của V, tài khoản này do Trần Văn H2 (sinh năm 1995, trú tại thôn E, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc) nhờ V đứng tên mở tài khoản. H2 là người quản lý, sử dụng tài khoản này. Hiện nay, H2 không có mặt tại địa phương đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
[10.1] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[10.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Quang T 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh dương, số Imei 353510600991450, bên trong có số thuê bao 0828934444, thu giữ của Phùng Quang T.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 24/NK81 ngày 09/4/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phùng Quang Tân 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2023
