TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST | |
Ngày: 28 - 11 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Huynh và ông Lưu Xuân Hạ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Tạ Văn Đ - Sinh ngày 11 tháng 3 năm 1994 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm D, T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn L (đã chết) và con bà Vũ Thị L1; bị cáo có vợ là Phạm Thị H và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Tại bản án số 33/2022/HS-ST ngày 29/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Tạ Văn Đ 24.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng, truy thu 4.280.000 đồng về tội “Đánh bạc”, Tạ Văn Đỗ chấp H1 xong toàn bộ bản án ngày 20/5/2024; tiền sự: không; nhân thân:
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 208/QĐ-XPHC ngày 16/7/2017 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Tạ Văn Đ 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh người gây thương tích”. Tạ Văn Đỗ chấp hành xong ngày 28/7/2017;
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 195/QĐ-XPHC ngày 20/8/2018 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Tạ Văn Đ 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tạ Văn Đỗ chấp hành xong ngày 29/8/2018.
Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 67/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
2. Vũ Văn T - Sinh ngày 22 tháng 7 năm 1991 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm D, T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và con bà Tạ Thị K (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không, tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 110/QĐ-XPHC ngày 17/5/2018 của Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Vũ Văn T 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, Vũ Văn T chưa chấp hành nộp phạt; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108/QĐ-XPHC ngày 17/3/2017 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Vũ Văn T 200.000 đồng về hành vi “Có cử chỉ, lời nói khiêu khích, xúc phạm người khác”. Vũ Văn T chấp hành xong ngày 15/5/2017.
Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 68/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm E T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- + Anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm E T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- + Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm E T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- + Anh Phạm Khương D, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm D T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- + Anh Tạ Văn T3, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm D T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- + Anh Phạm Ngọc M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
- Người làm chứng: Bà Phạm Thị Đ3 (vắng mặt).
- Người chứng kiến: Anh Tạ Quang B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tạ Văn Đ là người đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích và Vũ Văn T đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tối ngày 17/5/2024, Đ, T cùng Phạm Khương D, sinh năm 1989, Tạ Văn T3, sinh năm 1987 cùng trú tại xóm D T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1994, Phạm Văn Đ2, sinh năm 1994, Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 cùng trú tại xóm E T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và Phạm Ngọc M, sinh năm 1992 trú tại thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình đến nhà bà Phạm Thị Đ3, sinh năm 1968 trú tại xóm E, T, xã K, huyện Y để ăn cỗ đám cưới. Khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn cỗ xong, trong lúc ngồi uống nước tại rạp đám cưới thì Đ1 nói "Anh em làm tý Liêng, gà 10.000 đồng, phạt tối đa 100.000 đồng " (nghĩa là Đ1 muốn rủ mọi người đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi "Liêng") thì Đ, T, Đ2, T2, T3, D, M đồng ý. Đ2 nói với mọi người "Để tôi đi lấy bài" rồi về nhà lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ và quay lại rạp đám cưới. Sau đó, cả nhóm 08 người gồm Đỗ, T, Đ1, Đ2, T2, T3, D, M đi vào gian phòng khách nhà bà Đ3 cách rạp đám cưới khoảng 20m lúc này đang mở sẵn cửa, không có ai bên trong rồi cùng ngồi xuống nền nhà gian phòng khách thành vòng tròn để đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Cách thức chơi như sau: cả hội sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân được chia cho mỗi người 3 quân bài; trước mỗi ván bài, mỗi người phải đặt trước số tiền 10.000 đồng gọi là “đóng gà”, sau khi lên bài mỗi người được đặt thêm tiền gọi là “tố” người nào không theo thì thua hết số tiền đã đặt, mỗi lần tố tối thiểu là 10.000 đồng, tối đa là 100.000 đồng; người nào theo thì đọ bài, người thắng sẽ được toàn bộ số tiền “đóng gà” và số tiền “tố”. Việc thắng, thua dựa trên kết quả so bài của từng người chơi theo thứ tự: “Sáp” là ba quân bài giống nhau theo hàng ngang; tiếp theo đến “Liêng” là ba quân bài theo hàng dọc; rồi đến “Bộ đội” là ba quân bài có hình người không theo hàng dọc và cuối cùng là “tính nước” là lấy hàng đơn vị của tổng số điểm ba quân bài làm “nước”, cao nhất là 9 “nước” thấp nhất là 0 “nước”. Nếu có bài giống nhau thì tính theo chất đầu tiên là R, sau đó lần lượt là C, T4, B1. Khi tất cả đang chơi đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, thu giữ 01 bộ tú lơ khơ 52 quân cũ đã qua sử dụng, số tiền 2.300.000 đồng trên nền nhà trước mặt các đối tượng, ngoài ra còn thu giữ trên người Nguyễn Văn Đ1 là 4.700.000 đồng, Phạm Khương D là 800.000 đồng, Tạ Văn Đ là 300.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc và mời những người có liên quan về trụ sở Công an huyện Y để làm việc.
Quá trình điều tra đã xác định số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.300.000 đồng, cụ thể như sau: Tạ Văn Đ mang đi 350.000 đồng, (sử dụng 50.000 đồng để đánh bạc, 300.000 đồng không sử dụng để đánh bạc) khi bị phát hiện đang thắng 330.000 đồng; Vũ Văn T sử dụng 300.000 đồng, khi bị phát hiện đang thua 90.000 đồng; Nguyễn Văn T2 sử dụng 180.000 đồng, khi bị phát hiện đang thua 30.000 đồng; Nguyễn Văn Đ1 mang đi 5.060.000 đồng (Sử dụng 360.000 đồng để đánh bạc; số tiền 4.700.000 không sử dụng để đánh bạc) khi bị phát hiện đang thua 80.000 đồng; Phạm Khương D mang đi 1.100.000 đồng (Sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc; số tiền 800.000 đồng không sử dụng để đánh bạc) khi bị phát hiện đang thua hết tiền; Phạm Ngọc M sử dụng 360.000 đồng, khi bị phát hiện đang thắng 550.000 đồng; Tạ Văn T3 sử dụng 150.000 đồng, khi bị phát hiện đang thắng 60.000 đồng; Phạm Văn Đ2 sử dụng 600.000 đồng, khi bị phát hiện đang thua 440.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Văn Đ:
Xử phạt bị cáo Tạ Văn Đ từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Tạ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập đối với bị cáo Tạ Văn Đ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Tạ Văn Đ từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T:
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 09 tháng cải tạo không giam giữ đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập đối với bị cáo Vũ Văn T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.300.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân;
- + Trả lại cho bị cáo Tạ Văn Đ số tiền 300.000 đồng.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã nêu. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T nói lời sau cùng đều tỏ ra ăn năn, hối lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Tạ Văn Đ là người đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích và Vũ Văn T đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, tại nhà bà Phạm Thị Đ3 thuộc xóm E, T, xã K, huyện Y, Tạ Văn Đ, Vũ Văn T, Phạm Khương D, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn Đ2, Nguyễn Văn T2 và Phạm Ngọc M có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.300.000 đồng.
Tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 321: Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
2. . . .
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được việc đánh bạc trái phép là hành vi bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý sử dụng số tiền 2.300.000 đồng đánh “Liêng” trái phép được thua bằng tiền trong khi bản thân bị cáo Tạ Văn Đ đang có tiền án về tội “Đánh bạc”, bị cáo Vũ Văn T đang có tiền sự về hành vi “Đánh bạc”. Do đó, hành vi của các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T, đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự nên việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T đều tích cực tham gia vào việc đánh bạc sau khi được Nguyễn Văn Đ1 rủ, có thời gian tham gia đánh bạc như nhau nên giữ vai trò, vị trí như nhau trong vụ án.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Văn T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Tạ Văn Đ có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo Vũ Văn T có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” và có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
[5] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra tại khu dân cư đông đúc gây mất trật tự công cộng trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo
Các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T đã bị kết án về tội “Đánh bạc” và xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội nên phải có hình phạt thật thích đáng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhất thời phạm tội, số tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên cần tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe các bị cáo, giúp các bị cáo cải tạo, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ khấu trừ 5% thu nhập của các bị cáo để sung quỹ nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng” nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Tạ Văn Đ, Vũ Văn T.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 2.300.000 đồng thu giữ của các bị cáo là số tiền mà các bị cáo và những người khác sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Tạ Văn Đ là tiền bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Đối với Phạm Khương D, Tạ Văn T3, Nguyễn Văn Đ1, Phạm Văn Đ2, Nguyễn Văn T2 và Phạm Ngọc M là người cùng tham gia đánh bạc với Tạ Văn Đ và Vũ Văn T, tuy nhiên số tiền D, T3, Đ1, Đ2, T2, M sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc hoặc có tiền án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc do đó hành vi của D, T3, Đ1, Đ2, T2, M không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy đinh tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D, T3, Đ1, Đ2, T2, M về hành vi “Đánh bạc” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với bà Phạm Thị Đ3 là chủ nhà, quá trình điều tra đã xác định việc các bị cáo và các đối tượng nêu trên “Đánh bạc” tại nhà bà Đ3 thì bà Đ3 và những người trong gia đình không biết nên bà Đ3 không vi phạm pháp luật.
[9] Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Văn Đ;
- - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T;
- - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Tạ Văn Đ và Vũ Văn T phạm tội: Đánh bạc.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Tạ Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Tạ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 5% thu nhập đối với bị cáo Tạ Văn Đ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Tạ Văn Đ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Khấu trừ 5% thu nhập đối với bị cáo Vũ Văn T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.300.00 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ.
- Trả lại cho bị cáo Tạ Văn Đ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Chi tiết vật chứng theo ủy nhiệm chi ngày 13/11/2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô.
4. Về án phí:
Buộc các bị cáo Tạ Văn Đ và Vũ Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về đánh bạc
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Văn Đ và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
