Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH GIANG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 20/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Duy Tuần, ông Phạm Huy Điệu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân(VKSND)huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 20/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 07/11/2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Q, Sinh ngày: 02/3/1996 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị C; Vợ Trần Thị N1 và ba con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 3/8/2024, đến ngày 09/8/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo: Bùi Thế D, Sinh ngày 27/01/2001tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Hà Thị N2; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/08/2024, đến ngày 09/8/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo: Trần Đức A, Sinh ngày: 20/01/2001; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Hà Nội ra quyết định khởi tố bị can Trần Đức A, về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 điều 175 BLHS. Chưa xét xử. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024, đến ngày 09/8/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi liên quan:

  • - Anh Nguyễn Quang V, sinh năm 2004 - Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương – Vắng mặt
  • - Chị Trần Thị N1, sinh năm 1997 - Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương – Có mặt
  • - Anh Đoàn Phương N3, sinh năm 2004 - Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương – Có mặt

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 00 ngày 02/08/2024, Công an huyện N tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn Q, kết quả Q dương tính với chất ma túy loại: Methamephetamine (MET) và A1 (AMP).

Qúa trình điều tra xác định: Vào khoảng ngày 20/7/2024, Q dùng kéo đục hai lỗ trên nắp chai, cắm hai ống hút nhựa màu trắng vào hai lỗ nắp chai, dùng băng dính đen quấn lại ống hút ở phần tiếp giáp giữa ống hút và nắp chai, sau đó để nắp chai tự chế này trên nóc nhà tắm nhà Q, mục đích để khi có ma túy đá thì Q lấy chiếc nắp chai này cùng một số dụng cụ khác để sử dụng ma túy. Khoảng ngày 26/7/2024, tại phòng ngủ tầng 2 nhà Q, Q lấy một chiếc bật lửa gas màu đỏ, tháo phần kim loại bảo vệ ở đầu van gas vứt đi, dùng kéo cắt bỏ hai đầu của một chiếc bông ngoáy tai lấy một đoạn ống nhựa dài khoảng 02cm, dùng giấy bạc của vỏ bao thuốc lá quấn nối vào một đầu đoạn ống nhựa, chế tạo thành đoạn ống chế hoàn chỉnh, dài khoảng 04cm (thường gọi là “tim”), mục đích để khi có ma tuý đá thì Q dùng “tim” này sử dụng ma tuý. Chế xong “tim”, Q để bật lửa gas màu đỏ và “tim” ở nóc tủ gỗ ngang gần ti vi trong phòng ngủ, Trần Đức A đang chơi ở nhà Q ngồi cạnh xem và biết chỗ Q để bật lửa chế này.

Khoảng 11 giờ 00 ngày 01/08/2024, tại sân vận động xã T, huyện N, Q bảo Bùi Thế D “để anh mắc bạt xong về ăn cơm rồi đi làm túi về chơi”, tức là Q bảo với D sau khi mắc bạt xong Q và D đi mua ma túy đá về sử dụng. Đức A có mặt ở đó nghe vậy thì hiểu Q, D sẽ đi mua ma tuý đá về sử dụng. Sau khi về ăn cơm xong, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Q sử dụng điện thoại iPhone 7 Plus màu đen đăng nhập tài khoản Facebook – Messenger “Trần Thị N1” (đây là điện thoại và tài khoản của vợ Q) nhắn tin đến tài khoản Facebook – Messenger “Duyệt gà” đăng nhập trên điện thoại iPhone 8 plus, màu trắng của D rủ D đi mua ma tuý với nội dung “xuống anh”, D nhắn lại “lúc nữa”. Khoảng 15 phút sau Q nhắn tiếp cho D “đâu rồi, xuống anh đi, không có xe để anh đến đón”. Duyệt nhắn lại cho Q “Anh lên đón em” thì Q sử dụng xe mô tô Honda Winer, màu xanh - trắng - đen, BKS: 19B1-429.36 của Nguyễn Văn V1 (là em trai của Q) đón, chở D từ bờ hồ xã T về nhà Q để lấy tiền mua ma tuý. Khi ở nhà Q, thấy D mang tiền mặt đi nên Q và D thống nhất để D bỏ tiền ra mua ma tuý trước, sau đó về chia mỗi người một nửa tiền, D đồng ý thì Q chở D đi. V1 không biết Q dùng xe này chở D đi đâu, làm gì. Quá trình đi mua ma tuý, D ngồi sau chỉ đường cho Q đi đến khu vực vòng xuyến trung tâm huyện P, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy. Khi đến khu vực vòng xuyến, Q dừng xe ở đường, D xuống xe đi bộ gặp nam thanh niên mặc áo chống nắng, chùm kín đầu, mặc quần đùi, đeo khẩu trang, D hỏi “bán cho em năm trăm” và đưa tờ tiền 500.000 đồng, người này cầm tiền và đưa lại cho D 01 túi nilon dạng túi zip, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, D biết chất rắn trong túi là ma tuý đá nên cầm lấy rồi đi ra chỗ Q đang chờ, lên xe đi về. Trên đường về nhà, Q và D vào quán bán lồng chim mua cóong bằng thủy tinh để làm công cụ sử dụng ma túy đá.

Khi về đến nhà Q, D cầm túi zip chứa ma túy mua được đi lên tầng 2, thấy Đức A đang ngồi ở phòng khách tầng 1, D gọi “Đen ơi” (Đ1 là tên thường gọi của Trần Đức A) - tức là D gọi, rủ rê Đức A lên tầng 2 sử dụng ma túy cùng. Đức A nghe D gọi vậy thì hiểu D rủ lên tầng 2 để sử dụng ma túy cùng. Lúc này, D dùng móng tay xé túi nilon chứa ma tuý đá, đổ toàn bộ ma túy đá trong túi vào trong cóong thủy tinh, Đức A đi lên thì D và Đức A vào phòng ngủ tầng 2 cạnh cầu thang, D hỏi Đức A “lửa đâu, chế bật lửa chưa”, Đức A bảo “chưa, trên tủ kia có tim”, rồi Đức A đi tới chỗ tủ gỗ ngang cạnh chiếc tivi, lấy trên nóc tủ chiếc bật lửa gas màu đỏ và đoạn ống giấy bạc - “tim” mà Q chế tạo trước đó. Đức A cắm đầu ống nhựa màu trắng của “tim” vào van bật lửa gas tạo thành chiếc bật lửa chế rồi đưa chiếc bật lửa này cho D và bảo D “còn bật lửa không” thì D lấy trong túi quần bên phải ra một chiếc bật lửa gas màu vàng, trên thân bật lửa có chữ “BIC” đưa cho Đức A và bảo Đức A “mồi cho tôi phát”. Đức A cầm bật lửa màu vàng bật lửa lên, D cầm bật lửa đỏ chế ấn giữ lẫy van mở gas cho khí gas trong bật lửa thoát ra ngoài qua đoạn ống chế để gas gặp lửa của bật lửa Đức A đang bật thì cháy tạo thành ngọn lửa. Sau đó D hơ ngọn lửa ở cuối cóong thủy tinh chứa ma túy đá cho ma túy nóng chảy từ dạng rắn sang lỏng sệt. Lúc này, Q đi lấy chiếc nắp chai nhựa màu xanh đục sẵn hai lỗ cắm hai ống hút nhựa màu trắng gắn nút cao su đã chế tạo trước đó cất giấu ở nóc nhà tắm ở ngôi nhà cũ nhà Q rồi vào gian nhà bếp ngôi nhà Q đang ở tìm được một vỏ chai nhựa (dạng vỏ chai chanh muối), vào nhà vệ sinh vặn nước máy vào 2/3 chai, cầm nắp chai và chai đựng nước máy này mang lên phòng ngủ tầng 2 chỗ D và Đức A đang ngồi. Duyệt vặn nắp chai vào chai nước, nối cóong thuỷ tinh chứa ma tuý đá vào đầu ống hút nhựa có nút cao su, tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá hoàn chỉnh, dùng bật lửa gas chế châm lửa hơ đốt nóng đáy cóong thủy tinh làm cho ma túy tan chảy, bốc khói, D, Q, Đức A hút mỗi người được khoảng 05 hơi. Khi đang hút ma tuý thì Q vẫn sử dụng điện thoại iPhone 7 Plus màu đen đăng nhập tài khoản Facebook – Messenger “Trần Thị N1” gọi video đến tài khoản Facebook – M “Đoàn Phương N3” đăng nhập trên điện thoại iPhone 12 Pro Max màu xám của Nam cho N3, quay cảnh nhóm Q đang hút ma tuý đá và bảo “về đây anh cho cái này”, mục đích để rủ N3 về nhà Q sử dụng ma túy. Nhìn thấy Q đang sử dụng ma tuý thì N3 tắt máy do đang ở chỗ đông người nên sợ mọi người biết. Q, D, Đức A hút mỗi người khoảng 4-5 khói ma tuý nữa thì Q bảo “thôi cất vào tủ, thích tí chơi nốt”. Nghe vậy, D hút thêm một hơi ma túy rồi cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất vào trong ngăn bên trái tủ gỗ ngang trong phòng ngủ, sau đó, Q, D, Đức A ra ban công tầng 2 ngồi uống nước, chơi game. Khoảng 1 tiếng sau, Q nhắn tin cho N3 qua ứng dụng Facebook -Messenger hỏi N3 “về đến đâu rồi”, Nam nhắn lại “gần đến nhà, phần em nhá” - tức là N3 bảo Q phần N3 một ít ma túy đá để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, N3 điều khiển xe mô tô Honda Airblade, đeo BKS: 34H1-028.34 đến nhà Q (xe của ông Vũ Xuân T2, sáng ngày 01/08/2024 N3 mượn đi về quê). N3 đứng dưới sân gọi Q thì Q bảo N3 đi lên tầng 2, N3 đi lên đến đầu cầu thang tầng 2 thấy Q đang ngồi chơi điện thoại ở ban công, Q chỉ tay về phía tủ trong phòng ngủ bảo N3 “Ở trong tủ còn đồ đấy, vào mà chơi” - tức là Q bảo N3 ở trong tủ còn ma túy đá, vào lấy mà sử dụng, rồi Q bảo D “vào châm cho N3” - tức là bảo D vào châm lửa hơ đốt ma tuý cho N3 sử dụng. Nghe vậy, N3 đi vào trong phòng ngủ, D cũng đi vào phòng ngủ này lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý trong tủ trước đó D đã cất. Tay trái D cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, tay phải cầm bật lửa gas đỏ đang cháy hơ đốt nóng ma túy trong cóong thủy tinh. Lúc này Đức A đi qua nhìn vào phòng thấy N3, D ngồi cạnh nhau, tay D đang cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý thì bảo D “cho xin khói”, D bảo “thôi để bớt cho N3”, Q ở ngoài nghe thấy cũng bảo Đức A “thôi để cho nó”, nghe vậy thì Đức A đi ra ban công chỗ Q đang ngồi chơi điện thoại. Duyệt cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cho N3 hút vào cơ thể. N3 dùng miệng ngậm ống hút, hút 02 hơi thì hết số ma túy trong cóong thủy tinh. Sử dụng ma tuý xong, bộ D1 sử dụng ma tuý để ở nền phòng ngủ, chiếc bật lửa gas màu vàng N3 cầm ra ngoài hút thuốc lào và để ở đầu cầu thang tầng 2, sau đó Duyệt mang ném đi ở vị trí nào không xác định được. Các đối tượng sau đó ai về nhà người đó. Đến đêm, Q đi vào phòng ngủ thấy bộ dụng sử dụng ma tuý ở nền phòng thì cầm cất vào ngăn tủ bên trái của tủ gỗ ngang trong phòng. Quá trình Q, D, Đức A, N3 xuất hiện ở nhà Q chiều ngày 01/8/2024 thì N1 và V1 có nhìn thấy, nhưng không biết những người này đi mua ma tuý, chuẩn bị công cụ và sử dụng ma tuý. Khoảng 11 giờ, ngày 02/08/2024, N1 dọn dẹp nhà cửa, mở tủ gỗ trong phòng ngủ để lau dọn thì thấy trong ngăn tủ bên trái có một số dụng cụ các bị cáo sử dụng ma túy nhưng không biết của ai. N1 lo sợ người nhà sử dụng ma túy nên vứt qua cửa thông gió nhà vệ sinh tầng 2 rơi xuống dưới mái tôn bếp, vườn nhà Q, cạnh đó là vườn, đất nhà ông L, bà G (hàng xóm). Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ vật chứng và các đồ vật liên quan đến vụ án:

  • + Tại Kết luận giám định số 941/KL-KTHS ngày 05/08/2024 của Phòng K - Công an T3: Tìm thấy chất ma túy Methamphetmine bám dính trên thành phía trong ống thủy tinh và ống nhựa. Không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy.
  • + Tại kết luận số 352/KL-KTHS ngày 09/08/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H: Không tìm thấy chất ma túy trong chai nhựa trong suốt không có nắp, phần cổ chai có vòng nhựa.

Cáo trạng số 51/CT-VKSNG ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q, Bùi Thế D, Trần Đức A về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Ninh Giang là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, Bùi Thế D từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, Trần Đức A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu và tiêu hủy: 01 hộp bìa catton dán kín niêm phong có dấu của Phòng K - Công an tỉnh H số 352/KL-KTHS; 01 hộp bìa catton ghi số 941 MT/PC09 của Phòng K - Công an T3. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xám, số IMEI: 356721111145679.Tịch thu và tiêu hủy 01 thẻ sim có số Seri 89840480009197983779 (lắp trong điện thoại Iphone 12 Pro Max). Yêu cầu doanh nghiệp V2 đang cung cấp dịch vụ thu hồi thẻ sim có số Seri nêu trên. Trả lại cho anh Nguyễn Văn V1 chiếc xe Honda loại Winner, dán tem, màu xanh - trắng - đen, số máy: KC26E1110225, số khung: RLHKC2600GY077613, đeo BKS: 19B1-429.36; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 045150 mang tên Nguyễn Trung N4, địa chỉ: Khu C, C, V, Phú Thọ, BKS 19B1 -429.36. Trả lại cho chị Trần Thị N1 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 356695082159515, bên trong không lắp sim. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của những người có quyền lợi liên quan, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 01/08/2024, Nguyễn Văn Q rủ Bùi Thế D đi mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi mua được ma túy, Q, D chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy đá rồi D rủ Trần Đức A sử dụng ma túy cùng Q và D. Đức A lấy bật lửa gas và “tim” (ống được chế tạo từ ống bông ngoáy tai và ống giấy bạc), cắm “tim” vào phần van bật lửa gas màu đỏ và lấy bật lửa gas màu vàng mồi lửa cho D hơ đốt ma túy để Q, D, Đức A lần lượt sử dụng ma tuý bằng cách hút vào cơ thể tại gian phòng ngủ tầng 2 nhà Q ở thôn F, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương. Trong lúc Q, D, Đức A sử dụng ma túy thì Q gọi điện rủ Đoàn Phương N3, sinh năm 2004, ở thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương đến nhà Q sử dụng ma túy. Đến khoảng 15 giờ 20 cùng ngày, N3 về nhà Q và được D hơ, đốt ma túy cho N3 sử dụng tại gian phòng ngủ tầng 2 nhà Q. Với hành vi nêu trên, VKSND huyện Ninh Giang đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy. Việc tổ chức, tàng trữ để sử dụng ma túy của các bị cáo không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn là nguyên nhân dẫn đến tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh xã hội tại địa phương, do vậy cần phải xem xét xử lý trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của các bị cáo đã gây ra.

[4] Về nhân thân: Bị cáoNguyễn Văn Quang, Bùi Thế D có nhân thân tốt, Trần Đức A đang bị CSĐT Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội khởi tố, điều tra về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Nguyễn Văn Q là người khởi xướng, cùng chung tiền mua ma túy với Bùi Thế D, chuẩn bị công cụ và rủ N3 sử dụng ma túy, giữ vai trò chính trong vụ án. Bùi Thế D giúp sức tích cực cho Q trong việc mua bán, chuẩn bị công cụ và rủ Trần Đức A tham gia sử dụng ma túy, giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Trần Đức A đồng phạm vai trò sau cùng trong vụ án. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo; xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[8] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[9] Xử lý vật chứng:

  • 9.1 Đối với 01 hộp bìa catton dán kín niêm phong có dấu của Phòng K - Công an tỉnh H số 352/KL-KTHS; 01 hộp bìa catton ghi số 941 MT/PC09 của Phòng K - Công an T3, bên trong hộp chứa các mẫu vật sau giám định không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.
  • 9.2 Đối với chiếc xe Honda loại Winner, dán tem, màu xanh - trắng - đen, số máy: KC26E1110225, số khung: RLHKC2600GY077613, đeo BKS: 19B1-429.36; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 045150 mang tên Nguyễn Trung N4, địa chỉ: Khu C, C, V, Phú Thọ, BKS 19B1 -429.36 của anh Nguyễn Văn V1. Q mượn xe của anh V1 để chở D đi mua ma tuý anh V1 không biết, cần trả lại xe cho anh V1.
  • 9.3 Đối với điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 356695082159515, bên trong không lắp sim là của Trần Thị N1. Chị N1 không biết Q sử dụng điện thoại để nhắn tin trao đổi, liên lạc để tổ chức sử dụng ma túy, do đó trả lại cho chị N1.
  • 9.4 Đối với điện thoại Iphone 12 Pro Max dung lượng 256GB màu xám, số IMEI: 356721111145679 do Đoàn Phương N3 giao nộp, đây là phương tiện N3 sử dụng để liên lạc với các bị cáo để cùng sử dụng ma túy, cần tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước.
  • 9.5 Đối với 01 thẻ sim có số Seri 8984048000919798379 (lắp trong điện thoại Iphone 12 Pro Max) sử dụng vào việc vi phạm pháp luật, cần tịch thu và tiêu hủy. Yêu cầu doanh nghiệp V2 đang cung cấp dịch vụ thu hồi thẻ sim có số Seri nêu trên.
  • 9.6 Đối với xe mô tô Honda loại Airblade màu trắng - bạc - đen, không đeo biển kiểm soát, số máy: JP63E1305879, số khung: 6300FZ305861, cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 052768 mang tên Vũ Xuân T2. Ông T2 cho N3 mượn xe về quê, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả cho ông T2 là đúng quy định của pháp luật.
  • 9.7 Đối với 01 chiếc kéo lưỡi kim loại, chuôi kéo bằng nhựa màu xanh Q sử dụng để đục lỗ trên nắp chai và đục lỗ nút cao su của bộ D1 sử dụng ma tuý đá; 01 vỏ túi nilon dạng túi zip chứa ma tuý đá mà D và Q mua được; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 ống chế từ giấy bạc và đoạn ống nhựa - “tim”; 01 ống hút nhựa màu trắng còn lại của bộ D1 sử dụng ma tuý đá; điện thoại Iphone 8 Plus của D sử dụng để trao đổi với Q; chiếc bật lửa gas màu vàng Duyệt đã vứt đi, quá trình điều tra không thu giữ được các đồ vật nêu trên - HĐXX không xem xét, xử lý.

[10] Các nội dung khác: Trong quá trình sử dụng ma túy N3 không chuẩn bị công cụ, không góp tiền để mua ma túy, không mời ai sử dụng ma túy, không có hành vi giúp sức, hỗ trợ để người khác sử dụng ma tuý, do vậy HĐXX không xem xét, xử lý N3 về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với chị Trần Thị N1, anh Nguyễn Văn V1 không biết các đối tượng sử dụng ma túy; quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người thanh niên bán ma túy cho D vào ngày 01/08/2024, tại khu vực vòng xuyến huyện P, tỉnh Hưng Yên - HĐXX không xem xét, xử lý.

QUYẾT ĐỊNH

Vì các lẽ trên.

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q, Bùi Thế D, Trần Đức A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  3. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 07 năm 06 tháng (Bẩy năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/08/2024

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Thế D 07 năm 05 tháng (Bẩy năm năm tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/08/2024

    Xử phạt: Bị cáo Trần Đức A 07 năm 03 tháng (Bẩy năm ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/08/2024

  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy: 01 hộp bìa catton dán kín niêm phong có dấu của Phòng K - Công an tỉnh H số 352/KL-KTHS; 01 hộp bìa catton ghi số 941 MT/PC09 của Phòng K - Công an T3.

    Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xám, số IMEI: 356721111145679.

    Tịch thu và tiêu hủy 01 thẻ sim có số Seri 8984048000919798379 (lắp trong điện thoại Iphone 12 Pro Max). Yêu cầu doanh nghiệp V2 đang cung cấp dịch vụ thu hồi thẻ sim có số Seri nêu trên.

    Trả lại cho anh Nguyễn Văn V1 chiếc xe Honda loại Winner, dán tem, màu xanh - trắng - đen, số máy: KC26E1110225, số khung: RLHKC2600GY077613, đeo BKS: 19B1-429.36; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 045150 mang tên Nguyễn Trung N4, địa chỉ: Khu C, C, V, Phú Thọ, BKS 19B1 -429.36.

    Trả lại cho chị Trần Thị N1 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 356695082159515, bên trong không lắp sim.

    (Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Q, Bùi Thế D, Trần Đức A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo những nội dung có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những nội dung có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi liên quan;
  • - VKSND huyện Ninh Giang;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Ninh Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Xuân Trường

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Huy Điệu

Vũ Duy Tuần

Hà Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Quang, Duyệt, Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger