Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và ông Nguyễn Thanh Hoàng;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 12/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐST-HS ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, đối với bị cáo:

ĐẶNG VĂN PHONG, (Tên gọi khác: T), sinh năm: 2000 tại Bình Thuận;

HKTT: thôn Tam Tân, xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận;

Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đặng Văn S và bà Trương Thị O;

Vợ, con: chưa có;

Gia đình có 03 anh em; Bị cáo là con thứ ba;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đặng Văn P, sinh năm: 1995 (có mặt)

Địa chỉ: thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, khi đang ở nhà tại thôn T, xã T, thị xã L, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Đặng Văn P1 rủ anh trai là Đặng Văn P góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma tuý sử dụng nhưng Phòng không trả lời. Thấy vậy, P1 một mình điều khiển xe mô tô hiệu WARM, biển số 86V1-7572 đến khu vực trường học xã T gặp và mua của một thanh niên tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) 200.000 đồng ma túy đá, được nấu sẵn và bỏ trong ống thủy tinh cong. Sau khi mua được ma tuý, P1 cất vào trong túi quần rồi điều khiển xe về nhà chở P để đến chỗ làm tại cơ sở nước đá T2 thuộc thôn H, xã T, thị xã L.

Trên đường đi đến trước tiệm T3 trên đường L thuộc thôn T, xã T, thị xã L thì bị Công an xã T dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an xã T phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Đặng Văn P1 một ống thuỷ tinh cong, kích thước 13 cm, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục vàng (Ký hiệu M). Sau đó, Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L để xử lý.

Tại Kết luận Giám định số 1528/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,2520 gam là Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án đã được xử lý như sau:

  • - Đối với 01 ống thuỷ tinh cong và 0,1853 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1528 của Phòng K Công an tỉnh B, đã được Cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L để chờ xử lý.
  • - Đối với xe mô tô biển số 86V1-7572 thu giữ của Đặng Văn P1, đây là xe P1 mượn của ông Đặng Văn S (cha ruột) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông S vào ngày 06/3/2024.

Cáo trạng số 53/CT-VKSLG-HS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Đặng Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã viện dẫn trong Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đặng Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn P1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 ống thuỷ tinh cong và 0,1853 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1528 của Phòng K Công an tỉnh B.

Ý kiến của bị cáo: Đồng ý với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 27/12/2023, Đặng Văn P1 có hành vi tàng trữ 0,2520 gam methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Đặng Văn P1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Không.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn P1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Đặng Văn P1 là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là hiểm họa của con người và xã hội, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là nguyên nhân sản sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải dành cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe đối với bị cáo cũng như thông qua đó phòng ngừa tội phạm chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với Đặng Văn P, quá trình điều tra xác định khi bị cáo P1 đặt vấn đề góp tiền mua ma tuý sử dụng chung thì Phòng không trả lời, cũng không góp tiền nên không phải chịu trách nhiệm đồng phạm đối với số ma tuý mà P1 đã mua. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý Phòng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 ống thuỷ tinh cong và 0,1853 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1528 của Phòng K Công an tỉnh B là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Đặng Văn P1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 1528 của Phòng K Công an tỉnh B.

Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Văn P1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - NTG CA thị xã La Gi,
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi,
  • - UBND địa phương bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Phong
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger