|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số:48/2024/HS-ST Ngày 07-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Sinh Huy
Ông Nguyễn Văn Phẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Mai Văn Đ, sinh năm 1992 tại xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Mai Văn N và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị Thu H (ly hôn); con Mai Thị Kim N1, sinh năm 2018; anh, chị, em ruột 04 người lớn nhất sinh năm 1989 nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án không; Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến ngày mở phiên toà (07/6/2024) và có mặt tham gia phiên toà. Nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, bị phạt hành chính, không bị xử lý kỷ luật đã được xóa.
-
Bị hại: Nguyễn Phi B, sinh năm 1985 (Có đơn vắng mặt).
Trú tại: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Trú tại: Số C, T, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
-
Anh Mai Văn T1, sinh năm: 1994 (có mặt).
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
-
Ông Lâm Văn B1, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Trú tại: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
Ông Phạm Thành L1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Trú tại: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Mai Văn Đ và bị hại Nguyễn Phi B, sinh năm: 1985, nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long quen biết nhau vào năm 2021.
Vào ngày 30/6/2022, Đ và B có gặp nhau tại quán cà phê (không xác định, địa chỉ cụ thể), trong lúc uống cà phê Đình tự giới thiệu với Bằng là mình có mở một xưởng gỗ để gia công đồ mỹ nghệ, tọa lạc: Tổ F, ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bằng cũng tự giới thiệu với Đ có mấy khúc gỗ thô và một số sản phẩm gỗ đã gia công sẵn nhưng chưa thành phẩm, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt số gỗ của B đem đi bán, Đ nói với B là chở số gỗ thô và một số sản phẩm đã gia công sẵn về xưởng gỗ chỗ Đ để gia công, nếu ai có nhu cầu mua thì giới thiệu cho B bán, B đồng ý. Đến khoảng 15 giờ ngày 03/7/2022, Đ liên hệ với B để hỏi chở gỗ, sau đó B và Đ thuê xe cẩu đến nhà ông Lâm Văn B1, sinh năm: 1961, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M để chở gỗ gồm: 01 (một) cây cồng, 02 (hai) gốc cây nhãn da bò và 02 (hai) gốc cây sao, gỗ thô chưa thành phẩm để gia công. Sau khi đưa gỗ lên xe, Đ chở số gỗ trên đến cơ sở gia công đồ gỗ của anh Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1980, thuộc: Tổ F, ấp L, xã L, huyện M, bán cho anh L với số tiền 18.000.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 31/7/2022 Đ và B liên hệ với nhau, cả hai thuê xe cẩu đến nhà ông Phạm Thành L1, sinh năm: 1972, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M để chở gỗ gồm: 01 (một) con cóc bằng cây còng, 01 (một) ông phật Di lạc bằng cây còng; 01 (một) gốc cây nhãn da bò, 01 (một) gốc cây sao, 01 (một) gốc cây còng và 08 (tám) miếng ván mặt bàn ván còng (05 miếng lớn + 03 miếng nhỏ), tất cả đều là gỗ thô có hình dáng nhưng chưa thành phẩm về gia công. Sau khi đưa gỗ lên xe, Đ chở số gỗ trên đến Cơ sở gia công gỗ của anh Nguyễn Thanh L, bán cho anh L với số tiền 20.000.000 đồng.
Đến ngày 22/8/2022, anh B liên lạc với bị cáo Đ nhiều lần để hỏi thăm về việc gia công gỗ nhưng không liên lạc được. Sau đó anh B đến xưởng gỗ của anh L để tìm số gỗ trên thì phát hiện là Đ đã bán toàn bộ số gỗ cho anh L, biết là bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên ngày 03/12/2022, anh B đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M trình báo sự việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KLĐGTS ngày 31/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận:
Tài sản vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào ngày 03/7/2022, tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- 01 (một) cây còng, chiều cao 09 mét, đường kính 0,9 mét. Giá công đốn 585.000 đ/cây.
- 01 (một) gốc cây sao, chiều cao 0,8 mét, đường kính 1,2 mét. Giá công đốn 780.000 đ/cây.
- 01 (một) gốc cây sao, chiều cao 0,8 mét, đường kính 1,2 mét. Giá công đốn 780.000 đ/cây.
- 01 (một) gốc cây nhãn da bò, chiều cao 2,0 mét, đường kính 0,6 mét. Giá công đốn 390.000 đ/ cây.
- 01 (một) gốc cây nhãn da bò, chiều cao 2,0 mét, đường kinh 0,6 mét. Giá công đồn 390.000 đ/cây.
Tổng cộng 05 tài sản: 2.925.000 đồng.
Tài sản vụ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra vào ngày 31/7/2022, tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- 01 (một) con cốc bằng cây còng, chiều cao 0.8 mét, đường kính 1,2 mét.
- 01 (một) ông phật di lạc bằng cây còng;
- 08 (tám) miếng ván mặt (05 miếng lớn + 03 miếng nhỏ), bề dày đều 10cm. Không kích thước, không xác định được khối lượng.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M từ chối định giá do ở huyện không có cơ quan chuyên môn xác định và tám miếng ván không xác định được trọng lượng.
- 01 (một) gốc cây nhãn da bò, chiều cao 2,0 mét, đường kinh 0,6 mét. Giá công đốn 390.000 đ/cây.
- 01 (một) gốc cây sao, chiều cao 15 mét, đường kính 1,0 mét. Giá công đốn 390.000đ/cây.
- 01 (một) gốc cây còng, chiều cao 9,0 mét, đường kính 0,9 mét. Giá công đồn 585.000 đ/cây.
Tổng cộng: 1.755.000 đồng.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra chưa làm việc được với Mai Văn Đ đã hết thời hạn điều tra. Ngày 16 tháng 8 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự.
Đến ngày 13/3/2024, Mai Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Ngày 15/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự.
Ngày 18/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định khởi tố bị can đối với Mai Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh tạm giam đối với bị can.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐ.ĐGTS ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long kết luận:
- Miếng 1: Chiều dày dài 1,97 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 85kg.
- Miếng 2: Chiều dày dài 2,17 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 95kg.
- Miếng 3: Chiều dày dài 1,61 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 63kg.
- Miếng 4: Chiều dày dài 1,70 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 75kg.
- Miếng 5: Chiều dày dài 1,68 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 63kg.
- Miếng 6: Chiều dày dài 1,57 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 72kg.
- Miếng 7: Chiều dày dài 1,60 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 65kg.
- Miếng 8: Chiều dày dài 1,85 mét, bề dầy 10 cm, trọng lượng 81kg.
Tổng cộng: 08 (tám) miếng ván mặt bằng cây còng, trọng lượng 599kg (đã bao gồm tiền công cắt xẻ), tại thời điểm định giá là: 5.395.000 đồng.
Đối với tài sản là: 01 (một) con cóc bằng cây còng, đường kính 1,20 mét; 01 (một) ông phật Di lạc bằng cây còng. Do tài sản theo yêu cầu định giá không thu hồi được nên Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long từ chối định giá.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Văn Đ phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Mai Văn Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết đối với bị can quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, đây là tình tiết quy định tại điểm b khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi bị cáo biết hành vi phạm tội bị phát hiện đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú, bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về vật chứng và tang vật phạm tội: Trong giai đoạn điều tra, truy tố đã xử lý trả lại cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra, truy tố giữa bị cáo (em ruột của bị cáo) và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong số tiền 87.000.000đồng.
Đối với hành vi mua gỗ do người khác phạm tội mà có của anh Nguyễn Thanh L. Khi mua anh L hoàn toàn không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không xử lý.
Đối với 01 (một) con cốc bằng cây còng, chiều cao 0.8 mét, đường kính 1,2 mét và 01 (một) ông phật Di lạc bằng cây còng thất lạc, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định truy tìm, nhưng chưa thu hồi được.
Đối với chiếc điện thoại của Mai Văn Đ dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, do sợ bị phát hiện nên Đ đã ném bỏ, hiện nay không thu hồi được.
Tại bản cáo trạng số 34/CT.VKS.HMT ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Mai Văn Đ phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 174; Điều 38; Các điểm b, s Khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đ từ 09 (chín) tháng đến 01 (năm) tù.
Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo nộp theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Bị cáo tác động em ruột Mai Văn T1 bồi thường xong, anh T1 không yêu cầu bị cáo trả lại nên chỉ ghi nhận việc khắc phục hậu quả của bị cáo.
Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra đã xử lý xong nên không xem xét.
Lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện tại địa bàn huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên xét xử vắng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[ 1.2] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà hôm nay đã chứng minh được do không có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo Mai Văn Đ đã dùng thủ đoạn gian dối nói với anh Nguyễn Phi B là mình có mở một xưởng gỗ để gia công đồ gỗ, tọa lạc: Tổ F, ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long mục đích để anh B giao gỗ gia công sau đó đem đi bán lại anh Nguyễn Thanh L lấy tiền tiêu xài. Với thủ đoạn này vào khoảng 15 giờ, ngày 03/7/2022, tại nhà ông Lâm Văn B1, thuộc: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, anh Nguyễn Phi B đã giao tài sản là 01 (một) cây còng, chiều cao 09 mét, đường kính 0,9 mét; 01 (một) gốc cây sao, chiều cao 0,8 mét, đường kính 1,2 mét; 01 (một) gốc cây sao, chiều cao 0,8 mét, đường kính 1,2 mét; 01 (một) gốc cây nhãn da bò, chiều cao 2,0 mét, đường kính 0,6 mét và 01 (một) gốc cây nhãn da bò, chiều cao 2,0 mét, đường kinh 0,6 mét, theo kết luận định giá có trị giá là: 2.925.000 đồng cho bị cáo Mai Văn Đ gia công, sau khi có được tài sản Đ đem bán cho anh Nguyễn Thanh L với số tiền 18.000.000 đồng; Đến khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 31/7/2022, tại nhà ông Phạm Thành L1, thuộc: ấp T, xã T, huyện M, anh Nguyễn Phi B đã tiếp tục giao tài sản là 01 (một) gốc cây nhãn da bò, 01 (một) gốc cây sao, 01 (một) gốc cây còng và 08 (tám) miếng ván mặt bàn ván còng (05 miếng lớn + 03 miếng nhỏ) theo kết luận định giá có trị giá là: 7.150.000 đồng cho bị can Mai Văn Đ gia công, sau khi có được tài sản Đ đem bán cho anh L với số tiền 20.000.000 đồng và bỏ trốn.
Tổng giá trị tài sản bị can Mai Văn Đ đã chiếm đoạt vào ngày 03/7/2022 và 31/7/2022 theo kết luận định giá là 10.075.000đồng.
Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M được thẩm tra tại phiên tòa như: các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai người bị hại, những người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Mai Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Văn Đ phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết đối với bị can quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Mai Văn Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết đối với bị can quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, đây là tình tiết quy định tại điểm b khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi bị cáo biết hành vi phạm tội bị phát hiện đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú, bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đây là các tình tiết quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.3] Về hình phạt
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là quyền sở hữu của người khác về tài sản. Trong khi mọi người đang tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho mình và góp phần làm giàu cho xã hội, thì bị cáo lại làm ngược lại, muốn có tài sản để sử dụng cho lợi ích cá nhân bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để lấy tài sản của khác làm của riêng mình. Bị cáo gây bất bình trong dư luận xã hội, đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng trên không để tái diễn trong địa bàn nói riêng và trong xã hội nói chung, cần lên cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặt khác bị cáo Đ được chính quyền địa phương xác nhận là lao động chính phải chu cấp tiền nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện VKS cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt tương xứng để giám sát, giáo dục bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội.
[3] Về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng:
[3.1] Về vật chứng và tang vật phạm tội: Trong giai đoạn điều tra, truy tố đã xử lý trả lại cho bị hại, tại phiên toà không có yêu cầu nào khác nên HĐXX ghi nhận, miễn xét.
[3.2] Về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra, truy tố giữa bị cáo (em ruột của bị cáo) và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong số tiền 87.000.000 đồng tại phiên toà không có yêu cầu nào khác nên HĐXX ghi nhận, miễn xét.
[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a Khoản 1 Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Phạt bị cáo Mai Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/3/2024)
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mai Văn Đ.
-
Về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng:
- Về vật chứng và tang vật phạm tội: Trong giai đoạn điều tra, truy tố đã xử lý trả lại tài sản cho bị hại, tại phiên toà không có yêu cầu nào khác nên HĐXX ghi nhận, miễn xét.
- Về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Trong giai đoạn điều tra, truy tố giữa bị cáo (em ruột của bị cáo) và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong số tiền 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng) tại phiên toà không có yêu cầu nào khác nên HĐXX ghi nhận, miễn xét.
- Án phí: Buộc bị cáo Mai Văn Đ nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, anh Mai Văn T1 báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ( Mười lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ( Mười lăm ) ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Huỳnh Công Hảo |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mai Văn Đ tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
