|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 02 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lâm Thông Lợi, ông Đỗ Thanh Đoàn và ông Nguyễn Văn Khỏe.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hiến và Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 7 và ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn P, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1994, tại huyện H, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn C, (đã chết) và bà Huỳnh Thị M; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
2. Nguyễn Văn P1 (tên gọi khác Phi B; K), sinh năm 1985 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị Ngọc C1; vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
3. Lê Thanh C2, sinh năm 1998 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Thanh P2 và bà Nguyễn Thị P3; vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
4. Lê Văn L, sinh ngày 19/10/1994 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A, khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo H; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn Lộc E và bà Trần Thị Kim H; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lê Văn L đang chấp hành án phạt tù trong vụ khác (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang), (có mặt).
5. Nguyễn Khải Đ, sinh ngày 09 tháng 8 năm 2004 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số I, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Minh K1 và bà Phạm Thị B1; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
6. Nguyễn Văn T (tên gọi khác Nguyễn Quang T1), sinh ngày 14/5/1991 tại huyện H, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn C, (đã chết) và Huỳnh Thị M; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã và tạm giam từ ngày 08/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).
7. Mai Hoàng P4 (tên gọi khác là Phi N1), sinh năm 1991 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề
nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Mai Văn K2 và Nguyễn Thị N2; vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 21 tháng 8 năm 2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 26/12/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Chưa chấp hành xong Bản án. Ngày 01 tháng 02 năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 23/9/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Chấp hành xong Bản án vào ngày 28/9/2022;
Bị cáo Mai Hoàng P4 đang chấp hành hình phạt tù trong vụ khác (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). (có mặt).
- Người bào chữa:
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Văn L: Luật sư Nguyễn Tấn P5 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn P6 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số D đường Q, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt)
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Mai Hoàng P4 (tên gọi khác Phi Ngọng): Luật sư Trần Tiến V - Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số E H, Tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt ngày 27/8/2024; vắng mặt ngày 02/8/2024 và gửi Bản luận cứ bào chữa).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Khải Đ: Luật sư Huỳnh Hồng D - Văn phòng luật sư Huỳnh Hồng D thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số D T, phường M, TP., tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn P1: Luật sư Hồ Hữu L1 - Văn phòng Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: tổ A, khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn T (tên gọi khác Nguyễn Quang T1): Luật sư Phạm Thái B2 - Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Tổ D, Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thanh C2: Luật sư Lê Phước H1 - Công ty L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, Trần Hưng Đ1 nối dài, Ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt và bản gửi luận cứ bào chữa).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn P (tên gọi khác Phi B; K2): Luật sư Trần Ngọc B3 - Văn phòng L6 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại: Ông Dương Hoàng D1, sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị P3, sinh năm 1975; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- - Ông Võ Tấn H2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Văn B4, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Châu Trí P7, sinh năm 1961; nơi cư trú: Tổ E, khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1992; Hồ Minh H3, sinh năm 1992; Nguyễn Văn B5, sinh năm1985; Hồ Thị Ngọc C3, sinh năm 1985; Dương Thị T3, sinh năm 1992; Nguyễn Văn T4, sinh năm 2003 (tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/4/2022, Phạm Ngọc N3 (B) đến quán nước giải khát “777” của Hồ Thị Ngọc C3 tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để uống nước thì xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Văn P, dẫn đến N3 dùng ly thủy tinh (loại ly có quai cầm) đánh vào đầu P gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%. Bị N3 đánh gây thương tích, P đã cho Nguyễn Văn P1 (P - bạn của P) biết và nhờ Văn P1 đánh N3 trả thù, được Văn P1 đồng ý. Khoảng 23 giờ ngày 26/4/2022, P gặp N3 cùng nhóm bạn đang ở khu vực ngã ba L thuộc xã B, huyện C, nên gọi điện thoại thông báo cho Văn P1 biết. Nghe xong, Văn P1 gọi điện thoại cho những người bạn, gồm: Lê Thanh C2, Nguyễn Văn T (Q), Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Mai Hoàng P4 (P), M1, Q, B5, G (chưa xác định được họ, địa chỉ) và kêu P đến tập trung ở Công viên gần Ủy ban nhân dân huyện C (đường vào nhà của Văn P1) để bàn bạc, chuẩn bị hung khí (dao tự chế) đi tìm N3 chém trả thù cho P.
Tại đây, cả nhóm đã chuẩn bị hung khí (dao tự chế, dao xếp) của P và C2 đem đến. Xong, Văn P1 không đi, mà phân công cả nhóm điều khiển xe mô tô chạy theo C2 tìm N3 (do C2 nhận dạng rõ được N3), cả nhóm đồng ý và mỗi người cầm theo 01 cây dao tự chế (P cầm theo dao xếp) đi trên 05 xe mô tô, gồm: Lấy điều khiển xe chở C2 đi trước; P điều khiển xe chở Đ; Q điều khiển xe chở T; M1 điều khiển xe chở Hoàng P4; B5 điều khiển xe chở G đi theo sau. Khi cả nhóm đi đến cầu M trên Quốc lộ I thuộc ấp B, xã B, huyện C, C2 nhìn thấy Võ Tấn H2 đang điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn B4 (Bảo De; bạn của N3). Nghĩ Hạnh, B4 đang đi chung với N3, nên C2 truy hô cho mọi người đuổi theo. Bị rượt đuổi, H2 điều khiển xe chở B4 bỏ chạy vào khu đường đất, hướng ra bờ sông để tẩu thoát (cách cầu M khoảng 01km) thì bị nhóm của C2 đuổi kịp. Lúc này, P điều khiển xe mô tô vượt lên để Đ dùng dao chém trúng vào lưng của H2 01 nhát,
làm H2 điều khiển xe chở B4 té ngã xuống đường. H2 vứt xe bỏ chạy bộ, bơi qua sông tẩu thoát; còn B4 bỏ chạy bộ vào nhà người dân lẫn trốn.
Không tìm được H2, B4, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy ngược ra Q thì gặp Nguyễn Văn T4 đang điều khiển xe mô tô chở Dương Hoàng D1 đi theo hướng từ thành phố L đến thành phố C, tỉnh An Giang. Do nhìn nhầm D1 là N3, P truy hô cho cả nhóm điều khiển xe mô tô đuổi theo. Khi T4 điều khiển xe chở D1 đến khu vực ngã ba L (trước nhà T) ở ấp B, xã B, huyện C thì D1 bị nhóm của C2, P đuổi kịp dùng dao chém trúng vào lưng 02 nhát (không xác định được người chém). Bị chém, D1 nhảy xuống xe bỏ chạy bộ sang lề đường đối diện; còn T4 không làm chủ được tay lái, đâm xe vào lề đường bên phải va chạm vào trụ bê tông làm mốc lộ giới té ngã, nên bỏ lại xe chạy bộ vào khu vực nhà dân lẫn trốn. Riêng, D1 bỏ chạy được khoảng 20 mét thì bị P, Đ, C2, L, T, Hoàng P4, Q và M1 đuổi kịp dùng dao xếp, dao tự chế, đâm, chém nhiều nhát vùng ngực, vùng hông trái, vùng lưng, tay và chân của D1. Thấy D1 không phản kháng, nằm bất động trên đường nên cả nhóm dừng lại, lên xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường. Ngay sau đó, D1 được Nguyễn Hoàng T2, Hồ Minh H3 (bạn đi chung với D1, T4) phát hiện đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang.
Vật chứng thu giữ: 01 cây dao (loại dao xếp) bằng kim loại màu đen, mũi dao nhọn; 01 (một) xe mô tô màu bạc, biển kiểm soát 67B2- 603.40 và các vật dụng liên quan trong vụ án.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 207/22/TgT ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Dương Hoàng D1 là 38%; thương tích do vật sắc nhọn, vật tày gây nên. Cụ thể:
- - Sẹo ngực trái đứng dọc khoảng liên sườn II - III bờ sắc gọn, hồng, lồi, kích thước (3.8 x 0.3)cm. Thấu ngực, tràn máu màng phổi trái, đã phẫu thuật dẫn lưu: Tỷ lệ là 12%. Do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo ngực phải cạnh mũi kiếm xương ức, hồng, lồi, kích thước (0.7 x 0.2)cm: Tỷ lệ là 01%. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo mạn sườn trái, kích thước (0.4 x 0.2)cm: tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo lưng phải nằm ngang, hồng, lồi, bờ sắc gọn, kích thước (02 x 0.4)cm. Thấu ngực, tràn khí, tràn máu màng phổi phải. Đứt cung bên xương sườn số VIII bên phải tương ứng với sẹo bên ngoài: Tỷ lệ là 10%. Do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo thắt lưng trái, hơi xiên, hồng, lồi, bờ sắc gọn, kích thước (3.8 x 0.3)cm: Tỷ lệ là 02%. Do vật sắc nhọn gây nên.
- - Sẹo mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải, hơi xiên, hồng, lồi, kích thước (02 x 0.3)cm. Gãy dạng đứt vỏ xương cánh tay phải tương ứng với vết sẹo bên ngoài: Tỷ lệ là 03%. Do vật sắc gây nên.
- - Sẹo vai trái nằm ngang, hồng, lồi, kích thước (2.6 x 0.5)cm + (1.2 x 0.2)cm: Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
- - Sẹo mặt trước gối phải, nằm ngang, hồng, lồi, kích thước (1.5 x 0.3)cm: Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
- - Sẹo mặt trong phía ngón I bàn chân trái, kích thước (1.7 x 0.5)cm: Tỷ lệ là 01%. Do vật sắc gây nên.
- - Sây sát lưng phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát mặt sau 1/3 trên cánh tay phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát mặt sau 1/3 giữa cánh tay phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (2.5 x 0.2)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật sắc gây nên.
- - Bầm máu mặt sau ngoài 1/3 trên đến 1/3 giữa cánh tay phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Bầm máu mặt ngoài khuỷu tay phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (2.5 x 0.5)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật sắc gây nên.
- - Sây sát dạng mảng mặt lòng mô út bàn tay phải không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát dạng mảng vai trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (4.5 x 02)cm: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát dạng mảng mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (1.5 x 01)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật tày gây nên.
- - Bầm máu mặt ngoài khuỷu tay trái không tồn tại thương tích: Tỷ lệ là 00%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát mặt sau khuỷu tay trái dạng thẳng, nằm ngang, để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (1.5 x 0.3)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật sắc gây nên.
- - Sây sát không liên tục mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (05 x 0.8)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát dạng mảng không liên tục mu bàn chân phải, kích thước (06 x 0.5)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật tày gây nên.
- - Sây sát dạng mảng mắt cá ngoài bàn chân phải để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (02 x 0.4)cm: Tỷ lệ là 0.5%. Do vật tày gây nên.
- - Chấn thương cổ chân phải. Gãy mắt cá trong bàn chân phải: Tỷ lệ là 08%. Do vật tày gây nên (Bút lục số 105 - 110).
Tại Văn bản số 30A/Tlo-Tlo-TTPY ngày 25/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, trả lời: Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 207/22/TgT ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, đối với Dương Hoàng D1 có hai vết thương vùng trọng yếu của cơ thể:
- - Vết thương ngực trái: Thấu ngực, tràn máu màng phổi trái.
- - Vết thương lưng phải: Thấu ngực, tổn thương phổi tràn khí, tràn máu màng phổi phải. Đứt cung bên xương sườn số VIII bên phải.
- Đây là cấp cứu khẩn cấp về hô hấp. Nếu không được phẫu thuật kịp thời sẽ dẫn đến suy hô hấp, có thể dẫn đến tử vong.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 311/22/TgT ngày 26/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Võ Tấn H2 là 03% (ba phần trăm); thương tích do vật tày gây nên. Cụ thể như sau:
- - Sây sát dạng thẳng lưng trái, hơi xiên, để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (05 x 0.3) cm: Tỷ lệ là 01%. Thương tích do vật sắc gây nên.
-
- 02 vết sây sát dạng mảng gối phải, để lại vết biến đổi sắc tố da:
- + Vết 01: kích thước (2.5 x 0.7) cm: Tỷ lệ là 0.5%. Thương tích do vật tày gây nên.
- + Vết 02: kích thước (1.5 x 0.5) cm: Tỷ lệ là 0.5%. Thương tích do vật tày gây nên.
-
- 02 vết sây sát dạng mảng mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải, để lại vết biến đổi sắc tố da:
- + Vết 01: kích thước (02 x 0.5) cm: Tỷ lệ là 0.5%. Thương tích do vật tày gây nên.
- + Vết 02: kích thước (1.5 x 0.6) cm: Tỷ lệ là 0.5%. Thương tích do vật tày gây nên.
Tại kết luận giám định số 138/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 16/6/2022; số 139/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 20/6/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh An Giang:
Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong thẻ nhớ (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo Kết luận giám định.
Kèm theo Kết luận giám định: 01 Phụ lục gồm 03 trang A4 và 01 Phụ lục gồm 16 trang A4.
Các ngày 06/5/2022, 16/10/2023, 03/01/2024, Nguyễn Văn P, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ, Mai Hoàng P4 (P) và Nguyễn Văn P1 (P) bị khởi tố, điều tra.
Tại Cáo trạng số: 62/CT-VKS-P2 ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T và Nguyễn Khải Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mai Hoàng P4 về tội “Giết người” quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo P, Văn P1, C2, L, T và Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Riêng bị cáo Mai Hoàng P4 không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị hại Dương Hoàng D1; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng Nguyễn Thị P3 (mẹ ruột của C2), Võ Tấn H2, Nguyễn Văn B4, Châu Trí P7, Phạm Ngọc N3, Nguyễn Hoàng T2, Hồ Minh H3, Nguyễn Văn B5, Hồ Thị Ngọc C3, Dương Thị T3 và Nguyễn Văn T4 trình bày như nội dung vụ án nêu trên.
Tại phiên tòa, các bị cáo P3, Văn P1, C2, L, T và Đ vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Riêng bị cáo Hoàng P4 không thừa nhận đã tham gia cùng nhóm thực hiện hành vi phạm tội.
Đồng thời các bị cáo P3, C2, L, T và Đ đều có lời khai thống nhất xác định cả nhóm cùng truy tìm N3 để trả thù, trong đó có sự tham gia của Hoàng P4 là người được Văn P1 phân công trực tiếp chỉ huy tại hiện trường, tấn công hoặc rút lui.
Bị cáo Hoàng P4 không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Hoàng P8 cho rằng hoàn toàn không gặp Văn P1 để bàn bạc việc trả thù cho bị cáo P3.
Bị hại D1 yêu cầu các bị cáo: P3, C2, L, T, Đ, Hoàng P4 và Văn P1 liên đới bồi thường 41.900.000 đồng chi phí điều trị thương tích và bồi thường tiền tổn thất tinh thần. Quá trình điều tra, bà P3 (mẹ ruột của C2) đã nộp 10.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả do hành vi của C2 gây ra.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn P: Từ 13 năm tù đến 14 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn P1: Từ 13 năm tù đến 14 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Lê Thanh C2: Từ 11 năm tù đến 12 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Lê Văn L: Từ 12 năm tù đến 13 năm tù; tổng hợp hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tình từ ngày 21/10/2022; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T: Từ 12 năm tù đến 13 năm tù; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 102 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử
phạt bị cáo: Nguyễn Khải Đ: Từ 08 năm tù đến 09 năm tù; áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Mai Hoàng P4: Từ 13 năm tù đến 14 năm tù; tổng hợp hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tình từ ngày 27/12/2022.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ trong vụ án do không còn có giá trị. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô màu bạc, biển kiểm soát 67B2- 603.40. Đối với số tiền 10.000.000 đồng do bà P giao nộp khắc phục một phần hậu quả cho bị cáo C2, đề nghị cho bị hại D1 được nhận số tiền này.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận sự tự thỏa thỏa thuận của các bị cáo và bị hại. Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Nguyễn Văn T, Mai Hoàng P4 tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại D1 31.900.000 đồng theo mức độ lỗi của mỗi người.
Người bào chữa của các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Trong Bản luận cứ bào chữa của Luật sư Trần Tiến V đối với bị cáo Hoàng P4 cho rằng chưa đủ căn cứ quy kết bị cáo Hoàng P4 thực hiện hành vi phạm tội.
Các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ thống nhất với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Mai Hoàng P4 thống nhất với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, xác định không tham gia thực hiện tội phạm.
Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa những người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng là Võ Tấn H2, Nguyễn Văn B4, Châu Trí P7, Nguyễn Hoàng T2, Hồ Minh H3, Nguyễn Văn B5, Hồ Thị Ngọc C3, Dương Thị T3, Nguyễn Văn T4 vắng mặt. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thanh C2 là Luật sư Lê Phước H1, có đơn xin xét xử vắng mặt và bị cáo Lê Thanh C2 đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 291, Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, còn phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 15 giờ 10 ngày 27/4/2022 tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 207/22/TgT ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Dương Hoàng D1 là 38%; thương tích do vật sắc nhọn, vật tày gây nên; Văn bản số 30A/Tlo-Tlo-TTPY ngày 25/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A, trả lời: Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 207/22/TgT ngày 31/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A, đối với Dương Hoàng D1 có hai vết thương vùng trọng yếu của cơ thể; Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 311/22/TgT ngày 26/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Võ Tấn H2 là 03% (ba phần trăm); thương tích do vật tày gây nên; Kết luận giám định số 138/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 16/6/2022; số 139/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 20/6/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh An Giang. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 24/4/2022, Phạm Ngọc N3 (B) đến quán nước giải khát “777” của Hồ Thị Ngọc C3 tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để uống nước thì xảy
ra mâu thuẫn với Nguyễn Văn P. Do có mâu thuẫn với P từ trước nên P đã nhờ nhóm của Nguyễn Văn P1 gồm Lê Thanh C2, Nguyễn Văn T (Q), Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Mai Hoàng P4 (P) đi tìm D1 để chém trả thù cho P. Các bị cáo đã có hành vi dùng hung khí (dao tự chế, dao xếp) truy đuổi và chém nhiều nhát vùng ngực, vùng hông trái, vùng lưng, tay và chân của D1, hậu quả D1 bị thương tích qua giám định có tỷ lệ 38%, nếu không được cứu chữa kịp thời sẽ tử vong.
Mặc dù, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Văn P1 còn quanh co, chối tội nhằm làm giảm bớt trách nhiệm hình sự của mình; bị cáo Mai Hoàng P4 không thừa nhận hành vi tham gia cùng P, C2, L, T, Đ, Văn P1, M1, Q, B5 và G đi tìm Phạm Ngọc N3 chém và trên đường đi đã chém nhầm bị hại D1 như phân tích nêu trên, nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo P, C2, L, T, Đ, lời khai bị hại, người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định pháp y, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả trích xuất hình ảnh từ video ghi hình sự việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bên cạnh đó, tại phiên toà, bị cáo T xác định vào buổi chiều trong ngày cả nhóm tập trung tìm nhóm của N3 trả thù cho P thì T có gặp Văn P1 tại quán C4 (huyện C), tại đây có mặt của Hoàng P4 nhưng không rõ nội dung trao đổi giữa Văn P1 và Hoàng P4; đồng thời các bị cáo đều xác định sự có mặt tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Thế nên, việc bị cáo Hoàng P4 cho rằng không có gặp Văn P1 và cũng không tham gia thực hiện hành vi cùng nhóm Văn P1 dùng hung khí chém bị hại D1 nhằm tước đoạt mạng sống của bị hại D1 là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, xem xét, đánh giá các chứng cứ nêu trên, đã đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Hoàng P4 như nội dung vụ án đã nêu. Việc Hoàng P4 không thừa nhận tội chỉ nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, các bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là dao sắc nhọn đâm liên tiếp nhiều nhát vào các vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tính mạng, sức khoẻ là vốn quý của con người luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, không có ai có quyền xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác một cách trái pháp luật, mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác sẽ bị xử lý nghiêm minh kịp thời bằng pháp luật. Trên cơ sở các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy đây là một vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Tính chất đặc biệt nghiêm trọng được thể hiện ở tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn P: Sau khi bị Phạm Ngọc N3 đánh, bị cáo phải lựa chọn cách cư xử, giải quyết phù hợp và trình báo cơ quan chức năng để giải quyết theo quy định của pháp luật, nhưng với bản tính côn đồ hung hãn, muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, hung khí nguy hiểm, bị cáo gọi điện nhờ bị cáo Nguyễn Văn P1 rủ rê, lôi kéo các bị cáo Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ và Mai Hoàng P4 đi tìm N3 đánh trả thù. Trên đường đi, các bị cáo đã truy đuổi gây thương tích cho Võ Tấn H2 (bạn của N3) với tỷ lệ thương tích 03% và bị hại D1 với tỷ lệ thương tích 38%, việc bị hại D1 không chết là do cứu chữa kịp thời. Hành vi của bị cáo P là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với vai trò rủ rê, lôi kéo cầm đầu, nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo P và cao hơn các bị cáo khác.
- Đối với các bị cáo Nguyễn Văn P1: Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích. Lẽ ra, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo phải biết mục đích và giá trị của hình phạt để giáo dục, cải tạo bản thân trở thành người công dân tốt biết tôn trọng pháp luật và sống có ích cho xã hội. Nhưng với bản tính côn đồ, hung hãn, muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực và hung khí nguy hiểm, nên khi nghe bị cáo P nhờ tìm người giúp đỡ đánh N3 trả thù về việc P bị đánh, bị cáo đã tích cực lôi kéo, sắp xếp các bị cáo C2, L, T, Đ, Hoàng P4 và M1, Q, B5, G (chưa xác định được họ, địa chỉ), trong đó bị cáo Đ là người chưa đủ 18 tuổi đem theo dao bấm, dao tự chế đi theo P tìm N3 đánh trả thù. Trong vụ án này, mặc dù bị cáo không tham gia thực hiện đâm, chém H2 và D1, nhưng đã tích cực trong việc tập hợp lực lượng, phân công, sắp xếp vai trò từng người để thực hiện hành vi tội phạm. Do đó, cần phải có mức án thật nghiêm để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội.
- Đối với các bị cáo Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Văn T, Nguyễn Khải Đ: Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với vai trò là người thực hành giúp sức tích cực cho bị cáo P, nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm đối với các bị cáo để răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
- Riêng, bị cáo Mai Hoàng P4: Xét về nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trong đó có 02 lần chưa được xóa án tích và hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Cho thấy, bị cáo là người xem thường pháp luật, khó cải tạo, giáo dục và tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm. Xét về vai trò, cũng giống như các bị cáo C2, Lấy, T, Đ khi nghe bị cáo P4 rủ rê đi tìm N3 để đánh trả thù cho bị cáo P, bị cáo đã không ngăn cản, tìm hiểu nguyên nhân sự việc, mà đồng ý ngay mang hung khí (dao tự chế) đi theo P và các bị cáo khác tìm N3 chém. Hậu quả như đã phân tích trên. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Về nhân thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này ngoài tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1
Điều 123 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã không thành khẩn khai báo, mà còn quanh co, chối tội và không biết ăn năn, hối cải. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm để xét xử đối với bị cáo Hoàng P4 và mức án phải cao hơn các bị cáo C2, L, T, Đ mới phù hợp và đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tù có thời hạn ở mức tối đa đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị P3 đã giao nộp 10.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả do hành vi của C2 gây ra. Tại phiên toà, bị hại D1 và bị cáo đã thoả thuận được số tiền bị cáo phải bồi thường thêm là 41.900.000đ. Xét đây là sự tự nguyện thoả thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên công nhận; buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 41.900.000₫.
[7] Về vật chứng:
- - 01 cây dao (loại dao xếp) bằng kim loại màu đen, trên lưỡi dao có chữ “Chang Jiang” và ba lỗ tròn, mũi dao nhọn; 01 áo thun tay sọc vàng - xanh, phía trước ngực áo bên (T) có hình logo phía dưới có dòng chữ “GRIFFIN”;01 quần jean màu xanh hiệu “NEW FASHION JEAN”; 01 phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi: “Vụ: 307/KL-KTHS(KTSĐT-GT, ngày 05 tháng 10 năm 2022”, xét không còn giá trị sử dung, nên tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) xe mô tô màu bạc, biển kiểm soát 67B2- 603.40 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền Việt Nam: 10.000.000đ (nộp vào tài khoản, có chứng từ kèm theo) tiếp tục tạm giữ số tiền do gia đình bị cáo Lê Thanh C2 tự nguyện nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo cho việc thi hành án.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Nguyễn Văn T, Mai Hoàng P4 phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn P 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/4/2022).
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn P1: 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/02/2024).
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Lê Thanh C2 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/4/2022).
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Lê Văn L 12 (mười hai) năm tù; tổng hợp hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; buộc bị cáo Lê Văn L phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2022.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 12 (mười hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 08/11/2023).
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 91; Điều 101 và Điều 102 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Khải Đ 08 (tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/10/2023).
- Áp dụng điểm n, điểm p khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Mai Hoàng P4: 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù; tổng hợp hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo Mai Hoàng P4 phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/12/2022.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 591; Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự:
Công nhận sự thỏa thuận của bị hại và các bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khoẻ, tính mạng bị xâm phạm cho bị hại Danh số tiền là 41.900.000đ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng). Xác nhận bà P (mẹ ruột của bị C2) đã bồi thường thay bị cáo Lê Thanh C2 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng). Đối với số tiền 31.900.000₫ (Ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng) còn lại các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Nguyễn Văn T, Mai Hoàng
P4 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Dương Hoàng D1 theo phần bằng nhau là 5.317.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao xếp) bằng kim loại màu đen, trên lưỡi dao có chữ “Chang Jiang” và ba lỗ tròn, mũi dao nhọn; 01 áo thun tay sọc vàng - xanh, phía trước ngực áo bên (T) có hình logo phía dưới có dòng chữ “GRIFFIN”;01 quần jean màu xanh hiệu “NEW FASHION JEAN”; 01 phong bì màu trắng, bên ngoài có ghi: “Vụ: 307/KL-KTHS(KTSĐT-GT, ngày 05 tháng 10 năm 2022";
- - Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô màu bạc, biển kiểm soát 67B2- 603.40;
- - Bị hại Dương Hoàng D1 được nhận số 10.000.000 đổng (nộp vào tài khoản, có chứng từ kèm theo) do bà P mẹ bị cáo Lê Thanh C2 tự nguyện nộp khắc phục hậu quả.
(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Thanh C2, Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Nguyễn Văn T, Mai Hoàng P4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn P1, Lê Văn L, Nguyễn Khải Đ, Nguyễn Văn T, Mai Hoàng P4 cùng chịu 1.545.000 (Một triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự trong hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Khải Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự - tội giết người
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đồng phạm, giết người
