Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 48/2024/HS-PT

Ngày 06-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên

- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Quang Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 27/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Anh T và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Anh T - sinh năm 1987 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ B, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Văn Y - sinh năm 1964 và bà Dương Thị T1 - sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị Hồng N - sinh năm 1987; con: 03 con (Con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  2. Nguyễn Tiến L - sinh năm 1988 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Số nhà E, đường M, khu Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 - sinh năm 1954 và bà Trần Thị C - sinh năm 1956; vợ: Trần Thị Lan A - sinh năm 1988; con: 02 con (Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  3. Nguyễn Văn N1 - sinh năm 1995 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ A, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T2 - sinh năm 1958 và bà Đinh Thị N2 - sinh năm 1962; vợ: Lê Thị Ngọc Á - sinh năm 2000; con: chưa có; tiền án: Có 01 Bản án (Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt Nguyễn Văn N1 32 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”); tiền sự: Không; nhân thân: 01 Bản án (Bản án hình sự phúc thẩm số 60/2012/HSPT ngày 20/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Văn N1 05 (Năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án); bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 10/8/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  4. Trần Thủy P - sinh năm 1995 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ H phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết); con bà Vũ Thị T3 - sinh năm 1971; vợ: Đỗ Thị Minh H - sinh năm 1995; con: 01 con sinh năm 2022; tiền án: 01 Bản án (Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xử phạt Trần Thủy P 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”); tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 Bản án và 01 Quyết định xử phạt hành chính (Bản án hình sự sơ thẩm số 148/2012/HSST ngày 20/6/2012 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Trần Thủy P 04 năm 06 tháng về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 26/6/2009 của Công an thành phố V, xử phạt cảnh cáo đối với Trần Thủy P trong lĩnh vực an ninh trật tự); bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
  5. Lê Khánh T4 - sinh năm 1987 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ A, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Cán bộ Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh P; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Đảng viên (Đã đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 88-QĐ/UBKTĐUK ngày 19/12/2023 của Ủy ban kiểm tra - Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Phú Thọ); con ông Lê Văn T5 - sinh năm 1960 và bà Dương Thị N3 - sinh năm 1961; vợ: Trần Thị Thu H1 - sinh năm 1995; con: 03 con (Con lớn sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú (Có mặt).

Ngoài ra còn có 05 bị cáo (Nguyễn Thị Hồng N, Nguyễn Thị H2, Đào Trọng H3, Trần Văn T6, Nguyễn Bá Q) không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề:
  2. Hồi 18 giờ 15 ngày 29/5/2023, tại nhà ở của Nguyễn Thị Hồng N ở khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Phòng C1 Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang N đang có hành vi nhận số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động của Trần Thủy P với số tiền tương ứng là 16.880.000 đồng và của Đào Trọng H3 với số tiền tương ứng là 68.500.000 đồng. Thu giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu vàng, lắp sim thuê bao số 0343862810.

    Hồi 18 giờ 20 cùng ngày, một tổ công tác khác của Phòng C1 Công an tỉnh P bắt quả tang tại nơi ở của Đào Trọng H3 đang có hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50S, lắp sim thuê bao 0349358151 để nhắn tin số lô, đề cho N, thu giữ của H3 01 điện thoại trên.

    Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N, N tự giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, lắp sim thuê bao 0344767230, N khai sử dụng để cộng số lô, đề ngày 29/5/2023. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thủy P đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, lắp sim thuê bao 0326418693, P khai sử dụng để nhận và chuyển số lô, đề ngày 29/5/2023. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Trọng H3 không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

    Quá trình điều tra xác định: Để có tiền chi tiêu cá nhân nên Đào Trọng H3, Trần Thủy P thỏa thuận làm thư ký mua bán số lô, đề với Nguyễn Thị Hồng N để hưởng tiền phần trăm.

    Nguyệt thống nhất một điểm lô thu 21.800 đồng. Việc tính lô theo quy định là lô 8 (1 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được hưởng 80.000 đồng/1 điểm lô). Số lô trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số; tiền đề và ba càng là 72,5 % (đối với H3), 73% (đối với P). Lô xiên là 65%. Số đề trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng đề sẽ được hưởng gấp 70 lần số tiền đã đánh; 3 càng là 3 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng sẽ được hưởng gấp 400 lần số tiền đã đánh; lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 bán cho khách là 10.000 đồng/1 điểm, nếu trúng lô xiên 2 thì được hưởng gấp 10 lần số tiền đã đánh; nếu trúng lô xiên 3 thì được hưởng gấp 40 lần số tiền đã đánh; nếu trúng lô xiên 4 thì được hưởng gấp 100 lần số tiền đã đánh. Việc xác định trúng số lô, đề được căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua và thanh toán vào ngày hôm sau.

    Với phương thức thủ đoạn nêu trên, ngày 29/5/2023 các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc với nhiều người khác. Hành vi của các bị cáo bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số, số tiền đánh bạc chưa thanh toán cho nhau, cụ thể như sau:

    Chiều ngày 29/5/2023, H3 nhận số lô, đề của 3 đến 4 người (H3 không biết tên, địa chỉ cụ thể của họ). Sau đó, H3 tổng hợp số lô, đề bán cho khách, gửi 02 tin nhắn từ số điện thoại 0349.358.xxx của H3 đến số điện thoại 0343.862.xxx của N tương ứng với số tiền là 68.500.000 đồng.

    Cùng ngày 29/5/2023, P nhận số lô, đề của 2 đến 3 người (P không biết tên, địa chỉ cụ thể của họ). Sau đó, P tổng hợp số lô, đề bán cho khách, gửi 04 tin nhắn từ số điện thoại 0326.418.xxx của P đến số điện thoại 0343.862.xxx của N tương ứng với số tiền là 16.880.000 đồng.

    Quá trình điều tra, N khai nhận: Ngày 29/5/2023 N gặp Dương Tiến S, sinh năm 1983 ở huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để thỏa thuận về việc N làm thư ký chuyển nộp bảng số lô, đề cho S để hưởng tiền phần trăm. Hai bên thống nhất chuyển nộp bảng số lô, đề qua tin nhắn Zalo, đối chiếu thắng thua, thanh toán vào ngày hôm sau. Ngày 29/5/2023, N có hành vi mua bán số lô, đề với Đào Trọng H3 với số tiền 68.500.000 đồng, với Trần Thủy P với số tiền 16.880.000 đồng. Ngoài ra, trong ngày 29/5/2023, N bán số lô, đề cho một số người khác N không biết tên, tuổi, địa chỉ với số tiền là: 116.705.000 đồng. Sau đó N tổng hợp lại các số lô, đề đã nhận của H3, P và một số người khác rồi gửi tin nhắn tới tài khoản Z “Hehe” của S với tổng số tiền là 202.085.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được Dương Tiến S có hành vi mua bán số lô, đề với N.

    Ngoài ra, N có hành vi mua bán số lô, đề với Nguyễn Thị H2, cụ thể như sau: Đầu tháng 5/2023, N nhờ Lê Anh T (chồng N) liên hệ với H2 để tìm việc làm thêm kiếm thu nhập, T đồng ý. Sau khi liên hệ với H2, T cho N số điện thoại của H2 để liên lạc. H2 và N trao đổi với nhau về việc N làm thư ký ghi số lô, số đề cho H2, H2 đồng ý. N dùng số điện thoại 0343.862.xxx, cài đặt tài khoản Zalo “Axz-BH” nhập số điện thoại 0375.603.xxx của H2, tìm kiếm zalo “Hạnh Nguyễn” (nhưng do N lưu số điện thoại của H2 là “Hà Nội” nên khi kết bạn Z1 thì tên tài khoản Zalo của H2 hiện lên trên zalo của N là “Hà Nội”). Sau đó, N nhắn tin và gọi Z1 để trao đổi với H2 về việc làm thư ký chuyển nộp bảng lô, đề để hưởng tiền phần trăm.

    Hai bên thống nhất cách thức như sau: 01 điểm lô H2 thu 21.700 đồng. Việc tính lô theo quy định là lô 8 (01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng thưởng sẽ được hưởng 80.000 đồng/1 điểm lô). Số lô trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số; tiền đề và ba càng là 71%. Số đề trúng thưởng được tính là trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng đề sẽ được hưởng gấp 70 lần số tiền đã đánh; 3 càng là 3 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng sẽ được hưởng gấp 400 lần số tiền đã đánh; lô xiên 2, xiên 3, xiên 4 bán cho khách là 10.000 đồng/1 điểm, nếu trúng lô xiên 2 thì được hưởng gấp 10 lần số tiền đã đánh; nếu trúng lô xiên 3 thì được hưởng gấp 40 lần số tiền đã đánh; nếu trúng lô xiên 4 thì được hưởng gấp 100 lần số tiền đã đánh. Lô xiên thu 60% trên tổng số tiền đánh. Việc xác định trúng số lô, đề được căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua và thanh toán vào ngày hôm sau.

    Sau khi thống nhất với H2, ngày 03/5/2023 N bán số lô, đề cho một số người (N không xác định được tên, địa chỉ), sau đó tổng hợp thành 05 tin nhắn số lô, đề gửi đến tài khoản zalo của H2 tương ứng với số tiền là 192.344.000 đồng.

    Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 03/5/2023, Ν trúng 2.160 điểm lô tương ứng với 172.800.000 đồng, trúng 720.000 đồng tiền đánh đề tương ứng với 50.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N với H2 ngày 03/5/2023 là 415.544.000 đồng. Đến ngày 04/5/2023, sau khi đối chiếu kết quả thắng thua, H2 đã chuyển khoản cho N qua tài khoản Ngân hàng số 6804091995 của Ngân hàng M, tên tài khoản “HOANG THỊ TUYET” là tài khoản Nguyệt mượn của chị Hoàng Thị T7 là em dâu của N để sử dụng.

    Ngày 29/5/2023, Trần Thị Hồng N4 có hành vi nhận bảng lô, đề của Đào Trọng H3 với số tiền 68.500.000 đồng và Trần Thủy P với số tiền là 16.880.000 đồng. Ngoài ra, N4 còn bán số lô, đề cho một số người với số tiền là 116.705.000 đồng. Sau đó, N4 tổng hợp các số lô, đề chuyển cho tài khoản zalo “hehe” để hưởng tiền phần trăm với tổng số tiền là 202.085.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng sử dụng tài khoản zalo “hehe”.

  3. Đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá:
  4. Khoảng cuối tháng 02/2023, Nguyễn Tiến L cùng thống nhất với Lê Anh T và Lê Khánh T4 để lấy tài khoản cá độ bóng đá cấp tổng đại lý về cùng nhau quản lý và chia cắt thành các tài khoản nhỏ cho các con bạc tham gia cá độ bóng đá để được hưởng tiền chênh lệch. Sau đó, T4 lấy 01 tài khoản cấp tổng đại lý cá độ bóng đá có kí hiệu DTE702080 từ một người tên T8 ở huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với hạn mức 40.000 điểm, 01 điểm quy đổi 15.000 đồng. L, T4, T cùng nhau quản lý tài khoản có kí hiệu DTE702080, sử dụng tên đăng nhập longbh999 và mật khẩu Long6789, đường link truy cập là https://www.zuki88.comSau khi lấy tài khoản tổng đại lý DTE702080 về, L, T4 và T đều truy cập vào được để quản lý tiền thắng thua của những người chơi cá độ sau đó chia cắt ra 01 tài khoản cấp đại lý có kí hiệu DTE7020801 rồi chia cắt thành các tài khoản con bạc cấp dưới để được hưởng tiền chênh lệch thắng, thua. Cụ thể L, Tâm T9 đã giao tài khoản cá độ bóng đá để cá độ với:

    Đối với Trần Thủy P: L cấp cho P 02 tài khoản kí hiệu DTE7020801N01 (hạn mức 1000 điểm) và DTE7020801P01 (hạn mức 2000 điểm), thống nhất với nhau tỉ lệ quy đổi 1 điểm = 100.000 đồng. Sau khi nhận tài khoản DTE7020801P01, P đã truy cập mạng Internet đăng nhập tài khoản để đặt cược đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá. Rạng sáng ngày 06/03/2023, diễn ra trận đấu giữa 02 đội L2 và Manchester U trong giải bóng đá ngoại hạng A. Thời gian 3/6/2023 1:41:00PM, P đặt cược 100 điểm kèo Manchester United khi tỉ số trận đấu đang là Liverpool 3 - 0 Manchester United với tỉ lệ ăn 0,94. Kết quả P thua 100 điểm tương ứng với 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Số tiền đánh bạc P đã thanh toán cho L. Đối với tài khoản ký hiệu DTE7020801N01, P giao cho Nguyễn Văn N1 để N1 tham gia đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá. Cụ thể: P cấp cho Nguyễn Văn N1 01 tài khoản ký hiệu: “DTE7020801N01”, mật khẩu truy cập là “Congty668", truy cập vào trang web có địa chỉ là www.viva88.comNghĩa thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá. N1 và P thống nhất hạn mức là 1.000 điểm, giá trị quy đổi 1 điểm = 100.000 đồng. Việc thanh toán thắng, thua diễn ra vào ngày thứ 3 hàng tuần dưới hình thức thanh toán tiền mặt trực tiếp với nhau. Ngày 14/5/2023, diễn ra trận đấu giữa 02 đội E và Al de Madrid thuộc giải bóng đá SPAIN PRIMERA LALIGA. Thời gian 5/14/2023 10:38:03 AM, N1 đặt cược vào đội Atletico de M1 thắng chung cuộc (cửa trên) khi chấp 01 bàn thắng với tỉ lệ bỏ 0.94. Khi đó tỉ số trận đấu giữa 02 đội là E - 0 Atletico de Madrid. N1 đặt cược 100 điểm tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu N1 thua kèo và mất số tiền là 10.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc N1 đã thanh toán cho P, sau đó P đã thanh toán lại cho L.

    Đối với Trần Văn T6: L cấp cho T6 01 tài khoản có ký hiệu DTE7020801T01 để T6 thực hiện cá độ bóng đá. T6 với L quy ước với nhau mỗi điểm là 100.000 đồng, hạn mức tài khoản là 1000 điểm, đăng nhập vào trang web có địa chỉ là viva88.net. Ngày 02/04/2023, diễn ra trận đấu giữa Newcastle Ul và M2 trong khuôn khổ giải đấu ENGLISH PREMIER LEAGUE. Thời gian 4/2/2023 6:48:07 AM, T6 đặt cược vào Manchester United được chấp 0,25 bàn thắng khi trận đấu chưa diễn ra với số điểm đặt cược là 60 điểm. Kết quả T6 thua mất số tiền là 6.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc T6 đã thanh toán cho L.

    Đối với Nguyễn Bá Q: T9 cấp cho Q 01 tài khoản ký hiệu DTE6130969U50, mật khẩu QAZ12345 để Q tham gia cá độ bóng đá. Q và T9 thỏa thuận quy đổi 1 điểm bằng 50.000 đồng, với hạn mức từ 400 điểm đến 1.000 điểm. Việc thanh toán tiền thắng thua thanh toán vào thứ hai hàng tuần. Ngày 09/03/2023, Q đã cá độ giữa 02 đội A2 và Real Sociedad trong giải bóng đá UEFA EU ROPA LEAGUE. Thời gian 3/9/2023 1:50:43 PM, Q đặt cược 300 điểm cửa T10 khi hiệp một của trận đấu đang là AS Roma 0 - 0 Real Sociedad với tỉ lệ bỏ 0,98. Kết quả Q thua mất số tiền là 300 điểm tương ứng với 15.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc Q đã thanh toán cho T9.

    Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 cùng thống nhất lấy tài khoản để cá độ bóng đá cấp tổng đại lý về cùng nhau quản lý và chia cắt thành các tài khoản nhỏ cho các con bạc tham gia cá độ bóng đá để được hưởng tiền chênh lệch. L, T4 và T tham gia cá độ 04 trận vào các ngày khác nhau với số tiền đều dưới 20.000.000 đồng. Trần Thủy P sử dụng 01 tài khoản để tham gia cá độ 01 trận bóng đá với số tiền là 10.000.000 đồng. P giao cho N1 01 tài khoản để N1 tham gia cá độ, P giao cho N1 hạn mức, tỷ lệ quy đổi 1 điểm bằng hạn mức, tỷ lệ quy đổi 1 điểm P nhận từ L. Nguyễn Văn N1 tham gia cá độ 01 trận bóng đá với số tiền là 10.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Lê Anh T, Lê Khánh T4 và Nguyễn Tiến L.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn N1.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 56; Điều 58 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thủy P.

Tuyên bố các bị cáo Lê Anh T, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4, Trần Thủy P và Nguyễn Văn N1 phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt các bị cáo Lê Anh T, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 mỗi bị cáo 37 (Ba mươi bảy) tháng tù. Trừ thời gian các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 32 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 05 (Năm) năm 10 (Mười) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam của lần phạm tội này từ ngày 29/5/2023 đến 10/8/2023 và thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 là từ ngày 27/11/2020 đến ngày 08/2/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Thủy P 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả 02 bản án là 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam của lần phạm tội này là từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023 và thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam của Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 là từ ngày 27/11/2020 đến ngày 08/2/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và các nội dung khác.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, bị cáo Lê Anh T và Nguyễn Tiến L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; các bị cáo Nguyễn Văn N1, Trần Thủy P và Lê Khánh T4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Sau khi kháng cáo, các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Lê Khánh T4, Lê Anh T và Nguyễn Tiến L đã thực hiện lập công chuộc tội; bị cáo Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 nộp tiền ủng hộ ngày thương binh, liệt sĩ 27/7; quá trình công tác bị cáo T4 được tặng giấy khen.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Lê Khánh T4, Lê Anh T và Nguyễn Tiến L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì về hình phạt đối với các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Lê Khánh T4, Lê Anh T và Nguyễn Tiến L.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Anh T, Lê Khánh T4 và Nguyễn Tiến L.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N1.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thủy P.

Xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 20 tháng 22 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lê Khánh T4 từ 20 tháng đến 22 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L từ 20 tháng đến 22 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 21 tháng đến 23 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 29 tháng 17 ngày tù (32 tháng tù - 02 tháng 13 ngày tạm giữ, tạm giam = 29 tháng 17 ngày tù) là thời gian chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 50 tháng 17 ngày đến 52 tháng 17 ngày tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Thủy P từ 22 tháng đến 24 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 33 tháng 17 ngày tù (36 tháng tù - 02 tháng 13 ngày tạm giữ, tạm giam = 33 tháng 17 ngày tù) là thời gian chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 55 tháng 17 ngày đến 57 tháng 17 ngày tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 02/02/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì tuyên án sơ thẩm. Khi xét xử và tuyên án thì các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 và Lê Anh T đều có mặt tại phiên tòa. Ngày 05/02/2024 các bị cáo kháng cáo bản án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 và Lê Anh T đã kháng cáo đúng thời hạn nên được xem xét, giải quyết.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Lê Anh T và bị cáo Lê Khánh T4 có nhờ Luật sư bào chữa cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Anh T và bị cáo Lê Khánh T4 tự bào chữa, không đề nghị Luật sư bào chữa cho các bị cáo. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 61, khoản 1 Điều 72 và khoản 1 Điều 75 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không đưa Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Anh T và bị cáo Lê Khánh T4 vào tham gia tố tụng.

[2] Về hành vi thực hiện của các bị cáo: Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 và Lê Anh T đều khai nhận hành vi thực hiện phạm tội như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 29/5/2023 tại nhà ở của Nguyễn Thị Hồng N ở khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Phòng C1 - Công an tỉnh P bắt quả tang Nguyễn Thị Hồng N đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức nhận số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại di động của Trần Thủy P với số tiền 16.880.000 đồng.

Ngoài hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề vào ngày 29/5/2023, Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4, Nguyễn Bá Q, Trần Văn T6 và Lê Anh T còn đánh bạc với nhau được thua bằng tiền dưới hình thức sử dụng mạng Internet để cá độ bóng đá, cụ thể như sau:

  • Ngày 06/3/2023: P thua L 10.000.000 đồng.
  • Ngày 09/3/2023: Q thua T 15.000.000 đồng.
  • Ngày 02/4/2023: T6 thua L 6.000.000 đồng.
  • Ngày 14/5/2023: N1 thua P 10.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã tuyên bố các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 và Lê Anh T phạm tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã xét xử đúng người, đúng tội nên không kháng cáo tội danh.

[3] Về nội dung kháng cáo:

Các bị cáo Lê Anh T và Nguyễn Tiến L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; các bị cáo Nguyễn Văn N1, Lê Khánh T4 và Trần Thủy P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Khánh T4 và Lê Anh T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nộp lại số tiền sử dụng đánh bạc; các bị cáo T, L và T4 đều có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng H4, Huy chương kháng chiến nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo L, T4 và T thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo P thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần và có 01 tiền án nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết tăng nặng theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo N1 có 01 tiền án nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 mỗi bị cáo 37 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn N1 38 tháng tù và bị cáo Trần Thủy P 39 tháng tù là phù hợp.

Trước khi xét xử phúc thẩm, các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Anh T, Lê Khánh T4 đã thực hiện lập công chuộc tội; bị cáo Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 nộp tiền ủng hộ ngày thương binh, liệt sĩ 27/7; quá trình công tác bị cáo T4 được tặng giấy khen. Vì vậy, các bị cáo Trần Thủy P và Nguyễn Văn N1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm so với cấp sơ thẩm nên chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4. Các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ của khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Vì vậy, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì về hình phạt đối với các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4.

Bị cáo P và bị cáo N1 đang chấp hành án phạt tù, cho hưởng án treo của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nên tổng hợp hình phạt của hai bản án để các bị cáo chấp hành hình phạt chung. Các bị cáo đều bị tạm giữ, tạm giam 02 tháng 13 ngày (từ ngày 27/11/2020 đến ngày 08/02/2021) của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nên trừ thời gian tạm giữ, tạm giam sau đó tổng hợp hình phạt của hai bản án theo khoản 2 Điều 56 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thủy P, Nguyễn Văn N1, Lê Khánh T4, Lê Anh T và Nguyễn Tiến L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì về hình phạt đối với các bị cáo Lê Anh T, Lê Khánh T4, Nguyễn Tiến L, Nguyễn Văn N1 và Trần Thủy P.

  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Anh T, Lê Khánh T4 và Nguyễn Tiến L.

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N1.

    Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thủy P.

    Xử phạt bị cáo Lê Anh T 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Lê Khánh T4 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L 20 (Hai mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2023 đến 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 29 tháng 17 ngày tù (32 tháng tù - 02 tháng 13 ngày tạm giữ, tạm giam = 29 tháng 17 ngày tù) là thời gian chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 50 (Năm mươi) tháng 17 (Mười bảy) ngày tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

    Xử phạt bị cáo Trần Thủy P 22 (Hai mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp với 33 tháng 17 ngày tù (36 tháng tù - 02 tháng 13 ngày tạm giữ, tạm giam = 33 tháng 17 ngày tù) là thời gian chưa chấp hành của bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 07/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 55 (Năm mươi lăm) tháng 17 (Mười bảy) ngày tù. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 03/6/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

  3. Án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn N1, Trần Thủy P, Nguyễn Tiến L, Lê Anh T và Lê Khánh T4 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 02/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Công an thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khắc Chiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 48/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Anh Tuấn và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger