Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con chung, tài sản chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Bích Vân

2. Ông Nguyễn Công Trung

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 345/2023/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Cao Thị Ái N, sinh năm 1993;

    Địa chỉ: Số D, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

  • Người đại diện theo ủy quyền về phần tài sản của nguyên đơn: Anh Trịnh Quốc T, sinh năm 1982

    Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N1, sinh năm 1992;

    Địa chỉ: Số D, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Cao Thị Ái N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hoàng N1 tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B vào ngày 05/10/2017. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan hệ giữa chị và mẹ chồng không tốt, thường xảy ra mâu thuẫn nhưng anh N1 nghe lời mẹ chồng, không bênh vực chị nên thường cự cãi nhau. Trong thời gian còn chung sống tại gia đình chồng, chị làm công nhân may mặc, thu nhập mỗi tháng khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Anh N1 làm nghề tiện gỗ tại nhà, thu nhập bao nhiêu thì chị không rõ vì phần lớn tiền anh N1 đều đưa mẹ chồng cất giữ, anh N1 chỉ đưa cho chị một ít tiền sinh hoạt, không đủ để xoay sở. Đỉnh điểm mâu thuẫn là vào cuối tháng 8/2023, khi chị đi đám giỗ về trễ, con khóc, anh N1 và mẹ chồng cho rằng chị lo chơi, không lo cho con nên đuổi chị ra khỏi nhà. Từ đó chị và anh N1 chính thức sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh N1 không có liên lạc. Nay chị nhận thấy chị và anh N1 đã mâu thuẫn rất trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N1.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh N1 có 01 con chung tên Nguyễn Thị Gia H, sinh ngày 20/01/2021. Hiện con chung đang sống với chị. Tại đơn khởi kiện và các lần hòa giải, chị yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa, anh N1 chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng nên chị đồng ý với mức cấp dưỡng này và yêu cầu thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, anh Trịnh Quốc T - người đại diện theo ủy quyền về phần tài sản cho chị Cao Thị Ái N trình bày:

Về tài sản chung: Đối với số vàng cưới 07 chỉ vàng 24K, chị N thừa nhận có số vàng này nhưng đã bán hết số vàng này trong thời gian chị N có thai và sinh con tại gia đình chồng. Mục đích để xoay sở chi phí sinh hoạt và lo cho con vì trong thời gian chị N sống bên gia đình chồng, anh N1 đưa hết tiền cho mẹ, chị N

không có đủ tiền để chi tiêu nên phải bán đi. Khi bán vàng, chị N cũng không có nói với anh N1. Hiện số vàng này đã không còn nên chị N không đồng ý chia số vàng này theo yêu cầu của anh N1.

Đối với 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 813.21. Xe này chị N mua vào cuối tháng 4/2022. Nguồn tiền mua xe từ tiền lãnh thai sản của chị N là 26.000.000 đồng, mua xe lúc đó giá 23.500.000 đồng. Chị lãnh tiền thai sản bỏ vào 21.500.000 đồng, anh N1 phụ thêm 2.000.000 đồng. Chị N không đồng ý chia đôi giá trị của chiếc xe mà chỉ đồng ý chia dựa trên công sức đóng góp của cả hai. Theo đó, anh N1 chỉ đóng góp 10% nên chị N chỉ đồng ý chia cho anh N1 10% trên giá trị còn lại của toàn bộ xe được định giá là 12.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Hoàng N1 trình bày:

  • - Về hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống rất hạnh phúc nhưng đến đầu 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kể từ khi chị N đi làm công nhân ở công ty M thì thường xuyên đi chơi với bạn bè, bỏ mặc con cái, gia đình, trong khi mẹ anh ở nhà lo giữ con cho vợ chồng anh. Anh cũng nhiều lần la rầy, nhắc nhở nhưng chị N không thay đổi. Đỉnh điểm là vào cuối tháng 8/2023, chị N đi đám giỗ từ sáng tới tối mới về nhà, khi về tới nhà thì buồn vui nên chị N tự gom đồ về nhà cha mẹ vợ sống. Từ đó anh và chị N sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị N đưa con đi tránh mặt nên anh không gặp được. Bên cạnh đó, trong thời gian chung sống, mỗi tháng anh đều đưa tiền cho chị N dành dụm, từ 3.000.000 đồng – 4.000.000 đồng/tháng, còn phí sinh hoạt hàng ngày thì anh lo hết. Nay anh nhận thấy anh và chị N đã không còn tình cảm và không thể hàn gắn nên anh đồng ý ly hôn với chị N.

  • - Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Gia H, sinh ngày 20/01/2021. Hiện con chung đang sống với chị N. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu H cho chị N nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

  • - Về tài sản chung: Quá trình chung sống, anh và chị N có tài sản chung là 07 chỉ vàng 24K và 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2-

813.21 được mua vào cuối tháng 4/2022 hiện do chị N đang đứng tên giấy đăng ký xe. Đối với 07 chỉ vàng 24K, đây là vàng cưới mà cha mẹ anh cho, hiện chị N đang giữ số vàng cưới này vì lúc chị N bỏ đi thì có lấy số vàng này mang theo chứ không phải bán. Tuy nhiên, anh không có chứng cứ chứng minh. Anh yêu cầu chị N trả lại cho anh 3,5 chỉ vàng 24K. Đối với 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 813.21, xe này được mua từ tiền dành dụm của vợ chồng và hiện chị N đang giữ xe này. Anh đồng ý với kết quả định giá giá trị còn lại của chiếc xe là 12.000.000 đồng và yêu cầu chị N trả lại cho anh ½ giá trị chiếc xe là 6.000.000 đồng.

- Về nợ chung: Không có.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:

  • - Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 55, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

    • + Về hôn nhân: Ghi nhận chị Cao Thị Ái N và anh Nguyễn Hoàng N1 thuận tình ly hôn.

    • + Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Gia H, sinh ngày 20/01/2021. Giao cháu H cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hoàng N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

    • + Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia đôi chiếc xe môtô Honda Wave Alpha biển số 71C2- 813.21 của anh Nguyễn Hoàng N1. Chị Cao Thị Ái N có quyền

sở hữu 01 xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 81321 và có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hoàng N1 số tiền 6.000.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng N1 về việc chia tài sản chung là 07 chỉ vàng 24K.

+ Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Ái N và anh Nguyễn Hoàng N1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 05/10/2017. Do đó, hôn nhân của chị N và anh N1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh N1. Tại tòa, anh N1 cũng thừa nhận vợ chồng không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn cùng chị N. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị N và anh N1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc thuận tình ly hôn của chị N, anh N1 là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX ghi nhận.

  2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị N và anh N1 có 01 con chung tên Nguyễn Thị Gia H, sinh ngày 20/01/2021. Hiện cháu H đang sống cùng chị N. Tại Tòa, chị N và anh N1 thống nhất giao cháu H cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc này cũng đảm bảo sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành của cháu H. Do đó, HĐXX quyết định giao cháu H cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tại Tòa, hai bên thống nhất anh N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Gia H mỗi tháng 1.500.000 đồng từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu H tròn 18 tuổi. Xét sự thỏa thuận của các đương sự về vấn đề con chung là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX ghi nhận.

  3. Về tài sản chung: Đối với 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 81321. Xe này được mua vào cuối tháng 4/2022, do chị Cao Thị Ái

N đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, được cấp ngày 05/5/2022. Chị N cho rằng nguồn tiền mua xe chủ yếu từ tiền thai sản và anh N1 chỉ đóng góp 10% để mua xe nên chỉ đồng ý chia theo công sức đóng góp của anh N1. Tuy nhiên, chị N không có căn cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu chia xe tính trên công sức đóng góp của anh N1 là 10%. HĐXX xác định xe này được mua trong thời kỳ hôn nhân của chị N và anh N1, hai bên không chứng minh được công sức đóng góp nên chiếc xe này sẽ được chia đôi theo yêu cầu của anh N1. Chị Cao Thị Ái N đang quản lý, sử dụng xe nên chị N được quyền sở hữu xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 81321, được Hội đồng định giá xác định giá trị còn lại là 12.000.000 đồng và chị N có nghĩa vụ trả lại cho anh N1 ½ giá trị của chiếc xe là 6.000.000 đồng.

Đối với số tài sản chung là 07 chỉ vàng 24K, chị N và anh N1 đều thống nhất có số tài sản chung này. Mặc dù đây là tài sản chung nhưng do chị N trình bày đã bán hết để chi tiêu trong thời gian thai sản và nuôi con. Anh N1 cũng không chứng minh được hiện chị N còn số vàng này nên yêu cầu chia đôi tài sản chung là 07 chỉ vàng 24K của anh N1 không được tòa án chấp nhận.

  1. Về nợ chung: Hai bên trình bày không có nên HĐXX không xem xét.

  2. Về chi phí định giá: 1.000.000 đồng, anh N1 đã nộp xong, do yêu cầu của anh N1 về việc chia đôi tài sản chung là chiếc xe được HĐXX chấp nhận nên chị N phải trả lại cho anh N1 500.000 đồng.

  3. Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

  4. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Cao Thị Ái N nhận nộp án phí hôn nhân gia đình và phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tính trên giá trị tài sản được nhận. Anh Nguyễn Hoàng N1 phải nộp án phí cấp dưỡng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tính trên giá trị tài sản được nhận và phần tài sản có yêu cầu chia nhưng không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 59, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 357 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Ghi nhận chị Cao Thị Ái N và anh Nguyễn Hoàng N1 thuận tình ly hôn.

  2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Gia H, sinh ngày 20/01/2021. Chị Cao Thị Ái N có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia H. Anh Nguyễn Hoàng N1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Gia H với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

    Anh N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh N1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia đôi tài sản chung là 01 xe môtô hiệu Honda Wave Alpha của anh Nguyễn Hoàng N1. Chị Cao Thị Ái N có quyền sở hữu 01 xe môtô hiệu Honda Wave Alpha biển số 71C2- 813.21 và có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Hoàng N1 số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  4. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng N1 về việc chia tài sản chung là 07 chỉ vàng 24K.

  5. Về nợ chung: Hai bên trình bày không có nên HĐXX không xem xét.

  6. Về chi phí tố tụng (định giá): Chị Cao Thị Ái N có nghĩa vụ trả lại cho anh Nguyễn Hoàng N1 số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

  7. Về án phí: Chị Cao Thị Ái N nhận nộp án phí hôn nhân gia đình là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000

(ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng biên lai thu tiền số 0006527 ngày 31/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Chị N phải nộp tiếp 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.

Anh Nguyễn Hoàng N1 phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 2.855.000 (hai triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn) đồng (giá vàng 24K ngày 25/4/2024 là 73.000.000 đồng/lượng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 738.000 (bảy trăm ba mươi tám nghìn) đồng biên lai thu tiền số 0000059 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Anh N1 phải nộp tiếp 2.117.000 (hai triệu một trăm mười bảy nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã A (B, Bến Tre);
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Huyền Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, tài sản chung

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Cao Thị Ái N ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger