|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/DSST Ngày: 13/8/2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Võ Chùm và ông Nguyễn Ngọc Uyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đẳng -Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 813/2024/QÐST-DS ngày 19/7/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Hà Ngọc Đ, sinh 1943 và bà Phạm Thị L, sinh 1946;
Đồng trú tại: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Ủy quyền cho ông Đặng Thanh H, sinh 1978; nơi cư trú : B N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có ông Bùi Trọng T – Luật sư thuộc Công ty L4.
-Bị đơn: Ông Phạm Đình H1, sinh 1963 và Bà nguyễn Thị H2 (chết);
Nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H2 (chết) có:
- + Ông Nguyễn Đình Hoàng T1, sinh 1992; nơi cư trú: Thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- + Bà Phạm Thị Kiều T2, sinh 1984; nơi cư trú: Thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- + Bà Phạm Thị Kiều L1, sinh 1987; nơi cư trú: xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T; vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên ; vắng mặt.
- Bà Hà Thị L2, sinh năm 1972; có mặt.
- Bà Hà Thị L3, sinh năm 1974; có mặt.
- Bà Hà Thị N, sinh năm 1976; vắng mặt.
- Bà Hà Thị Mỹ K, sinh năm 1978; có mặt.
- Ông Hà Văn T3, sinh năm 1981; vắng mặt.
Đồng cư trú tại: thôn X, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2022, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn vợ chồng ông Hà Ngọc Đ và bà Phạm Thị L trình bày: Năm 1980 vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của ông T4 Cho một thửa đất rẫy do ông Tống C khai hoang, sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông trồng lúa, trồng mì, trồng mía, đến năm 1991 UBND huyện T ra Quyết định số 81/UB ngày 10/10/2019 giao cho hộ gia đình ông 01 ha đất (10.000 m²) tọa lạc tại khu vực Núi sau nay thuộc G, thôn X, xã A, huyện T, gia đình ông nhận cây bạch đàn về trồng đến ngày 12/1991 hạt kiểm lâm cấp sổ lâm bạ số 431 cho hộ gia đình (gồm có 7 khẩu) với diện tích đất rừng 10.000 m², sau đó UBND huyện T thu hồi sổ lâm bạ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G754796 ngày 25/10/2004 đứng tên Hà Ngọc Đ diện tích 10.000 m², đến năm 2010 UBND huyện T thu hồi và làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không cấp hết diện tích đất 10.000 m² cho vợ chồng ông mà chỉ cấp 1 phần diện tích là 1397m², còn lại một phần diện tích 3374m² cấp cho vợ chồng ông Phạm Đình H1 bà Nguyễn Thị H2, nên vợ chồng ông yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062588 ngày 24/5/2010 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Phạm Đình H1 và bà Nguyễn Thị H2 và yêu cầu công nhận diện tích đất 3374m² là của vợ chồng ông.
Tài liệu có tại hồ sơ bị đơn ông Phạm Đình H1 và bà Nguyễn Thị H2 (lúc bà H2 còn sống) trình bày: Diện tích đất 3374m² đang tranh chấp được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062588 ngày 24/5/2010 cho vợ chồng bà; nguyên nguồn gốc đất là của cha mẹ ông H1 là ông Phạm Đình N1 (đã chết) khai hoang từ năm 1977, ông N1 sử dụng đất đến năm 1982 thì giao lại cho vợ chồng bà canh tác trồng mì và trồng bắp cho đến năm 1990 thì trồng cây bạch đàn, từ khi vợ chồng bà sử dụng đất cho đến khi có dự án làm đường thì đã thu hồi 1 phần đất, vợ chồng bà nhận tiền bồi thường thì xảy ra tranh chấp nên bà không chấp nhận theo yêu cầu của vợ chồng ông Hà Ngọc Đ.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân huyện T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày tại Công văn số 1831/CV-UB ngày 09/8/2022 việc khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở vì 10.000m² của ông Đ cấp năm 1991 và năm 2004 hiện nay là thửa 171 tờ bản đồ 01 diện tích 22.784m² cấp cho ông Đ.
Bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H2 đều vắng mặt, nên không tiến hành hòa giải được.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị L2, Hà Thị L3, Hà Thị N, Hà Thị Mỹ K, Hà Văn T3 đều trình bày như nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị H2 đều vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng pháp luật về tố tụng dân sự; về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC062588 ngày 24/5/2010 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H2 (chết) và ông Phạm Đình H1, nguyên đơn được quyền sử dụng đất theo hiện trạng như sổ lâm bạ cấp 1991 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2004; khoản tiền đền bù điện tích đất mở đường cần tách giải quyết bằng vụ án khác theo yêu cầu của nguyên đơn (như biên bản giải quyết của Ủy ban nhân dân xã A)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Phú Yên theo Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nên tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tại phiên tòa theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Theo giấy bán đất rẫy của ông Tống C bán cho vợ chồng ông Đ bà L ngày 12/6/1980 một thửa đất không nói diện tích bao nhiêu, nhưng chỉ nói giới cận: Đông giáp ranh rẫy của ông Đặng Ngọc H3; tây giáp đá chẻ; nam giáp ranh rẫy ông Trần Văn N2; bắc giáp đường cái đi. Đến năm 1991 Ủy ban nhân dân huyện T ra Quyết định số 81/UB ngày 10/10/1991 giao đất cho ông Đ sử dụng diện tích đất 01 ha.
Theo Quyết định số 81/UB ngày 10/10/1991 thì Ủy ban nhân dân huyện T giao cho ông Hà Ngọc Đ 01 ha đất tại N để trồng rừng với thời hạn sử dụng 20 năm. Ngày 13/12/1991 Hạt Kiểm lâm huyện T cấp sổ lâm bạ cho hộ gia đình ông Đ. Việc giao đất theo Bản đồ giao đất lâm nghiệp tỷ lệ 1/5000 có giới cận: Đông giáp đất rừng ông Trần Văn N2; tây giáp đất trống lâm nghiệp; nam giáp đất trống lâm nghiệp; Bắc giáp đất trống lâm nghiệp. Năm 2004 Ủy ban nhân dân huyện T ký Quyết định số 1583/QĐ-UB ngày 25/10/2004 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 27 hộ đã có sổ lâm bạ, trong đó có hộ ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 754796 với diện tích 01 ha, mục đích sử dụng RTS, thời hạn đến năm 2041. Thực hiện dự án đo đạc ảnh hàng không đối với đất lâm nghiệp; ngày 24/5/2010 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ ông Hà Ngọc Đ và hộ ông Phạm Đình H1. Hộ ông Hà Ngọc Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062577 ngày 24/5/2010 số thửa 213, tờ bản đồ 01, diện tích 1.379m², đất rừng sản xuất, nguồn gốc công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đến năm 2060, tại Đ, thôn X, xã A. Ngoài ra còn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062574 ngày 24/5/2010, thửa đất 171, tờ bản đồ số 01, diện tích 22.784m², đất rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến năm 2046; Hộ ông Phạm Đình H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062589, số thửa199, tờ bản đồ 01, diện tích 3.374m² đất rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến năm 2060.
Ủy ban nhân dân huyện T trình bày việc xác định chủ sử dụng đất trên cơ sở Bản đồ đo đạc ảnh hàng không năm 2009 là không chính xác, nhưng theo bản đồ địa chính lập năm 2007 thì 3.374m² đất tranh chấp không thể hiện riêng, mà được đo chung bao trong tổng thể 438.093m² thuộc thửa 256 loại đất lâm nghiệp do UBND xã A quản lý, không quy chủ cho cá nhân hộ gia đình nào, nhưng trên thực tế đất đang tranh chấp hộ gia đình ông Đ là người đang trực tiếp sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án ngày 30/5/2017 Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng đất tranh chấp, trên thực địa của thửa đất 199 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn thì ông H1 chỉ dẫn do đạt chỉ có 901,5m² chứ không phải 3374m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, mặt khác trên đất tranh chấp đang tồn tại cây trồng của hộ ông Đ. Biên bản thẩm định tại chỗ ngày 22/3/2023 gia đình ông Đ chỉ dẫn xác định toàn bộ hiện trạng rừng bạch đàn trên đất do gia đình ông Đ trồng từ năm 1990 đến nay, kể cả phần diện tích đất 901,5m² thuộc thửa 199 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn, toàn bộ đất tranh chấp ông Đ xác định đều do gia đình ông canh tác.
Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đất rừng ông đang canh tác, được UBND huyện T giao năm 1991 trong đó có diện tích đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H1. Là anh em cô cậu ruột với bị đơn nhưng nhân chứng ông Tống C trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 16/8/2017 là đất tranh chấp là do ông C khai hoang năm 1975, năm 1980 ông cho chuyển nhượng cho ông Đ giá 20kg gạo chỉ thể hiện bằng miệng. Sau này tranh chấp ông Đ yêu cầu ông C viết giấy tay bán đất cho ông Đ, ông C khẳng định chính xác vị trí đất tranh chấp lần gần đây nhất do vợ chồng ông Đ bán bạch đàn khoảng tháng 2/2017 âm lịch, vợ chồng ông Đ đã bán bạch đàn 4 lần; nguồn gốc đất này là của ông C chuyển nhượng cho ông Đ chứ không phải của vợ chồng H1.
Người làm chứng Trần Văn N2, Phạm Ngọc R đều xác định đất ông Phạm Đình N1 (cha ruột ông H1) để lại cho vợ chồng ông H1 là phía bên trên đường đi (bên phải theo hướng từ xã đi ra) chứ không phải dất đang tranh chấp, còn đất này là của vợ chồng ông Đ sử dụng đất từ trước đến nay. Người làm chứng Đặng Minh T5 xác định có mua bạch đàn của vợ chồng ông Đ 03 lần tại vị trí đất tranh chấp. Ông H1 cho rằng thửa 199 được cấp cho ông là cấp lần đầu; là của cha bị đơn khai hoang nhưng bỏ hoang từ 1992 đến 2012, trong khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là năm 2010, chứng tỏ bị đơn ông H1 không phải là người đang trực tiếp sử dụng đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số 1216/UBND ngày 20/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã A cũng thừa nhận: Dự án đo đạc bản đồ ảnh hàng không đất lâm nghiệp, số lượng hồ sơ nhiều Ủy ban nhân dân xã không kiểm tra hiện trạng, dựa vào hồ sơ đơn vị tư vấn chuyển giao nên dẫn đến sai sót. Trường hợp tranh chấp đất của ông Đ và ông H1 trong đó có sự chồng lấn diện tích đang sử dụng, hiện trạng ranh giới sử dụng khác so với bản đồ. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo diện tích thực tế ông H1 sử dụng, trên cơ sở cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp không đúng cấp lại cho ông Đ, ông H1 và các hộ khác đúng với hiện trạng sử dụng đất.
Từ những căn cứ như trên thấy rằng, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn diện tích 3.374m2 đất lâm nghiệp thuộc thửa 199, tờ bản đồ 01 là không đúng đối tượng đang sử dụng đất, vì đất này đã được cơ quan có thẩm quyền giao cho nguyên đơn từ năm 1991 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004, nên nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 062589 cấp cho bị đơn diện tích 3.374m² và công nhận diện tích đất theo hiện trạng nguyên đơn đang sử dụng trong đó có 3.374m² đất tranh chấp là có căn cứ.
Đối với khoản tiền bồi thường về đất đã thu hồi do trúng quy hoạch giao thông, nguyên đơn đồng ý tách để giải quyết bằng vụ án khác như biên bản giải quyết của Ủy ban nhân dân xã A, nên được ghi nhận tại phiên tòa.
[6] Về chi phí đo vẽ thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 37, 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng bà Phạm Thị L và ông Hà Ngọc Đ theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2022.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC062588 ngày 24/5/2010 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H2(chết) và ông Phạm Đình H1 với diện tích đất 3374m² tại thửa số 199, tờ bản đồ 01, loại đất rừng sản xuất. Công nhận quyền sử dụng đất 3374m² cho vợ chồng bà Phạm Thị L và ông Hà Ngọc Đ theo sổ lâm bạ cấp cho ông Hà Ngọc Đ ngày 13/12/1991 và quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 25/10/2004 (Kèm theo sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH T6 lập ngày 22/3/2023).
Vợ chồng ông Hà Ngọc Đ có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đúng hiện trạng sử dụng đất khi có yêu cầu.
[2] Về chi phí giám định, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Đo vẽ thẩm định tại chỗ và định giá 15.200.000đ; nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
[3] Về án phí: Miễn án phí cho nguyên đơn và bị đơn vì là người cao tuổi; hoàn lại cho nguyên đơn 300.000đ tiền tạm ứng án phí, đã nộp ở biên lai thu tiền số 0000136 ngày 21/10/2021 tại Cục Thi hành án tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Hoàng |
Bản án số 48/2024/DSST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 48/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Hà Ngọc Đãi và bị đơn Phạm Đình Huấn
