Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DSST

Ngày: 16-9-2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Ái Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Vẹn

Ông Thạch Mu Ni

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Kim Liên, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 45/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thạch Thị A, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị H, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Thạch Thị H1, sinh năm 1959; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Thạch Sâm B, sinh năm 1955; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
    2. Ông Kim R, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
    3. Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt)
  • - Người phiên dịch: Ông Thạch V, công tác tại Trường Trung học cơ sở P2, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thạch Thị A trình bày:

Phần đất tranh chấp có diện tích 170m², nằm trong diện tích 620m² thuộc thửa số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T có nguồn gốc là của cha bà tên Thạch S. Năm 1990 ông S chết thì để lại cho mẹ bà tên Thạch Thị H2. Năm 2012 bà H2 làm thủ tục sang tên cho bà thừa kế và bà đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 06/11/2012 với tổng diện tích 620m² thuộc thửa đất số 437, tờ bản đồ 1, tọa lạc ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, đến năm 2015 bà H2 chết. Quá trình sử dụng đất thì gia đình bà trực tiếp canh tác, sử dụng ổn định phần đất này để trồng rau và trồng cây lâu năm. Năm 2019 bà Thạch Thị H1 là người có đất giáp ranh đã lấn chiếm phần đất của bà với diện tích 185m² thuộc thửa đất nêu trên, sau khi xảy ra sự việc bà yêu cầu bà H1 trả lại đất nhưng bà H1 không đồng ý. Nay bà yêu cầu bà Thạch Thị H1 phải trả lại cho bà phần đất đã lấn chiếm theo như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ với diện tích là 170m², thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Thạch Thị H1 trình bày:

Vào khoảng năm 1962 ông ngoại bà tên Kiên N có cho bà Thạch Thị H2 và ông Thạch S (cha mẹ bà Thạch Thị A) mượn một phần đất đang tranh chấp (không rõ diện tích bao nhiêu) để trồng rau sinh sống. Khoảng năm 1998, mẹ bà tên Thạch Thị P có đòi lại phần đất thì được mẹ bà A đồng ý trả lại đất. Lúc mẹ bà A trả đất thì có một số cây cối trên đất mà mẹ bà A đã trồng trước đó thì cha mẹ bà A đã chặt đốn hết. Sau khi mẹ bà lấy lại đất thì gia đình bà có tiến hành lấy một lớp đất phía trên đem đổ nền đất nơi khác, bà A không có sử dụng phần đất này kể từ khi mẹ bà lấy lại đất. Sau này bà A tự đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mà ông Kiên N đã cho mượn trồng rau trước đó và còn kê khai luôn phần đất gia đình bà đang sử dụng, gia đình bà không hay biết. Đến khoảng 02 – 03 năm gần đây bà A có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà A khởi kiện yêu cầu gia đình bà trả diện tích đất 170m², thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, gia đình bà không đồng ý trả đất vì gia đình bà đã canh tác trồng cây lâu năm từ lâu và có nguồn gốc của ông bà, bà để lại, không phải nguồn gốc của gia đình bà A; Trước đây bà có làm đơn phản tố yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Thạch Thị A, công nhận cho bà được tiếp tục, quản lý sử dụng diện tích 170m² thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L. Nay bà xin rút lại đơn yêu cầu phản tố trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thạch Sâm B thống nhất ý kiến trình bày của bà Thạch Thị H1.

Ý kiến của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Thạch S, bà Thạch Thị H2 sử dụng từ trước năm 1975, thể hiện qua thừa nhận của bà H1 là ông Kiên N cho ông S đất để canh tác từ năm 1962. Bà H1 không có giấy tờ chứng minh việc cho mượn đất; bà H1 cho rằng sau khi bà H2 trả đất thì có đổ thêm một lớp đất để trồng cây nhưng thực tế

qua khảo sát thì thửa đất này ngang bằng nhau, bà H1 không chứng minh được có đổ đất san lấp, cây dầu sinh trưởng trên phần đất tranh chấp cũng giống với cây dầu sinh trưởng bên phần đất còn lại của bà A. Bà H1 và cha mẹ bà H1 không kê khai đăng ký đối với phần đất tranh chấp, và cũng không khiếu nại việc bà H2, bà A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công văn của Ủy ban nhân dân huyện T xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H2, bà A, đúng trình tự thủ tục nhưng không đúng đối tượng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H1 thừa nhận gia đình bà chỉ sử dụng đất từ năm 1998 khi bà H2 trả đất, nghĩa là sau khi bà H2 được cấp quyền sử dụng đất, như vậy việc cấp quyền sử dụng đất cho bà H2 là đúng đối tượng sử dụng đất. Biên bản xác minh ông Thạch C, ông Kim R1 xác định đất của ông Thạch S để lại cho bà Thạch Thị A. Từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị A, buộc bà Thạch Thị H1 trả cho bà A diện tích 170m², thuộc một phần thửa số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại Công văn 163/UBND-NC ngày 20/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T phúc đáp đến Tòa án: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H2 về đối tượng là chưa phù hợp theo quy định của Luật đất đai. Bởi thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ bà H2 không có trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất trên mà do gia đình bà H1 quản lý sử dụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh chính quyền địa phương và những người dân sinh sống ở khu vực đất tranh chấp được biết: diện tích đất tranh chấp bà H1 là người sử dụng, bà A không có sử dụng. Nên việc bà Thạch Thị A yêu cầu bà Thạch Thị H1 trả lại diện tích 170m² là không có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị A. Hủy giấy chứng quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Thạch H2 thửa 437 diện tích 620m² vào ngày 17/12/1994; hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Thạch Thị H2 với bà Thạch Thị A thửa 437 diện tích 620m² vào ngày 23/10/2012 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà A vào ngày 06/11/2012.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do trước đây bị đơn có yêu cầu phản tố hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 34, 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa ông Kim R vắng mặt, tuy nhiên ông Kim R sinh năm 1971, thời điểm năm 1983 ông chỉ mới 12 tuổi nên không phải là chủ thể kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, do đó ông không phải là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Việc vắng mặt của ông Kim R không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Xét việc rút đơn yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị H1 là tự nguyện không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị H1.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị A yêu cầu bà Thạch Thị H1 trả lại diện tích 170m², thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

[5] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Qua xác minh một số người dân lớn tuổi, sống lâu năm tại địa phương như ông Kiên R2 (BL2018), Kim T (BL 216), bà Thạch Thị S1 (BL 126-127) ông Kim R (bl129) Thạch Cua (Bl 130) ông Kiên P1, Kiên S2 (BL 189) xác định phần đất tranh chấp là của ông Kiên N là ông ngoại của bà Thạch Thị H1 để lại. Cha mẹ bà A là người từ nơi khác đến không có đất canh tác, ông Kiên N có cho cha mẹ bà A sử dụng một phần đất (phần còn lại thửa 437 không tranh chấp) để trồng hoa màu và cây mù u. Khoảng năm 1998 gia đình bà A đã đốn hết tất cả cây mù u và để đất trống, từ đó đến nay gia đình bà A không sử dụng phần đất được ông Kiên N cho, kể cả phần đất tranh chấp bà A không sử dụng, đến khi bà A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vào năm 2020 mới xảy ra tranh chấp đất với bà H1. Bà Thạch Thị Sa R3 có đất giáp ranh với phần đất tranh chấp cũng xác định nguồn gốc đất là của ông bà bà H1 để lại, cha mẹ bà A ở nơi khác đến được ông bà của bà H1 cho một phần đất để trồng rau màu sử dụng, không biết vì sao khi làm thủ tục kê khai đăng ký bà A lại kê khai luôn phần đất của ông N cho cha mẹ bà H1. Cách đây khoảng 20 năm cha mẹ bà A chặt hết cây trên đất để trả đất lại cho mẹ bà H1. Phần đất này do bà H1 canh tác sử dụng trồng cây cây và khai thác hưởng hoa lợi từ trước đến nay (BL 217).

[6] Theo tư liệu địa chính năm 1983: Thửa 268 tờ bản đồ 8 diện tích 3.120m², thửa 327, tờ bản đồ 8, diện tích 300m² do Kim R đứng tên người sử dụng và thửa 328, tờ bản đồ 8, diện tích 350m² do Thạch S (chồng bà Thạch Thị H2) đứng tên người sử dụng.

[7] Theo tư liệu địa chính năm 1995: Thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, diện tích 620m² do bà Thạch Thị A đứng tên chủ sử dụng.

[8] Theo thông tin lịch sử biến động: Ngày 17/12/1994 thửa đất số 437, tờ bản đồ 1 diện tích 620m², Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Thạch Thị H2. Ngày 23/10/2012 Ủy ban nhân dân xã L xác nhận hợp đồng chuyển nhượng nhận tặng cho của hộ bà Thạch Thị H2 sang cho bà Thạch Thị A và bà Thạch Thị A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên vào ngày 06/11/2012.

[9] Tại Công văn số 163/UBND-NC ngày 20/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T về đối tượng trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà

Thạch Thị A đối với thửa đất 437, tờ bản đồ 1 diện tích 620m² như sau: Đối với phần đất tại thời điểm năm 1983 do ông Thạch S đứng tên người sử dụng diện tích 350m² đến thời điểm năm 1995 bà Thạch Thị A đứng tên chủ sử dụng 620m² chênh lệch diện tích 270m² là nằm trong phần đất của ông Kim R kê khai đăng ký năm 1983 và hiện nay phần đất này (đang tranh chấp) do gia đình bà Thạch Thị H1 đang quản lý sử dụng. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị A đối với thửa đất 437, tờ bản đồ 1 diện tích 620m² là đúng trình tự, thủ tục nhưng không đúng về đối tượng tại thời điểm cấp giấy do hộ bà Thạch Thị H2 không có trực tiếp quản lý sử dụng mà do gia đình bà Thạch Thị H1 quản lý sử dụng.

[10] Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định: Về nguồn gốc thửa đất số 437, tờ bản đồ 1 diện tích 620m² trong đó có đất tranh chấp là của ông Kiên N1 cho bà H2, ông S sử dụng một phần, sau đó ông S đăng ký kê khai theo tư liệu năm 1983 thuộc thửa 328, tờ bản đồ 8, diện tích 350m², đối chiếu thực tế không tính phần diện tích tranh chấp theo kết quả thẩm định thì bà A sử dụng 270m² (Do bà A chưa xác định hết ranh đất). Phần tranh chấp gia đình bà H2, ông S và bà A không sử dụng nhưng Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ hộ bà Thạch Thị H2 là có một phần không đúng đối tượng sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật Đất đai năm 1993 xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1 nên cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Thạch Thị H2, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Thạch thị H2 với và Thạch Thị A và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Thạch Thị A để các đương sự làm lại thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng.

[11] Đối với bà Thạch Thị H1 đang quản lý sử dụng diện tích 170m², thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, nhưng bà H1 không có yêu cầu công nhận đất nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị A và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận;

[13] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[14] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: tổng chi phí đã chi là 4.865.000 đồng, số tiền này bà Thạch Thị A đã nộp tạm ứng và đã chi xong, buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

[15] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà Thạch Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bà Thạch Thị A là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn nộp tiền án phí cho bà Thạch Thị A.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, các Điều 34, 37, 244, 264 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 137 và Điều 236 Luật đất đai năm 2014; Nghị quyết

326/2016/UBTVHQ14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị A yêu cầu bà Thạch Thị H1 trả lại diện tích 170m², thuộc một phần thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Thạch Thị H1 về việc yêu cầu công nhận cho bà được sử dụng diện tích 170m² đất tọa lạc ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  3. Tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Thạch Thị H2 ngày 17/12/1994, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Thạch Thị H2 với và Thạch Thị A được Ủy ban nhân dân xã L chứng nhận ngày 23/10/2012 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Thạch Thị A ngày 06/11/2012 đối với thửa đất số 437, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

    Bà Thạch Thị A được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hiện trạng sử dụng đất được thể hiện theo sơ đồ thửa đất kèm theo Công văn số 377/CNHTrC, ngày 08/7/2022 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, có vị trí tứ cận như sau:

    • Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa 437 kích thước 14,60m;
    • Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 437 kích thước 22,0m;
    • Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 437 kích thước 14,20m;
    • Hướng Bắc giáp thửa 321 kích thước 16,20m.
  4. Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc bà Thạch Thị A phải chịu 4.865.000 đồng, số tiền này bà A đã nộp và đã chi xong nên không phải nộp tiếp.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: miễn nộp tiền án phí cho bà Thạch Thị A.

Các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TPHCM.
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Ái Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DSST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Thạch Thị U vớt Thạch Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger