|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST
Ngày: 19/9/2024.
V/v:"Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hường.
- Bà Mai Thị Huyền Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài–Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số số 125/2024/TLST-DS ngày 27/6/2024 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-DS ngày 14/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Số A phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T-Tổng giám đốc Ngân hàng C.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H–Giám đốc Ngân hàng C–Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận (theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C). Ông Nguyễn Thế H ủy quyền lại cho ông Trần Quốc B–Phó Giám đốc Ngân hàng C–Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia tố tụng (theo giấy ủy quyền số 201/UQ-NHCS ngày 19/6/2024) (ông B có mặt tại phiên tòa).
-Bị đơn: Bà Quảng Thị T1 -sinh năm 1990 (vắng mặt).
-Người có nghĩa vụ liên quan: Ông Quảng S-sinh năm 1935 (vắng mặt).
Cùng trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và buổi làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng C ông Trần Quốc B trình bày:
Ngày 12/3/2018, bà Quảng Thị T1 đại diện cho hộ gia đình đứng tên vay vốn chương trình hộ mới thoát nghèo tại Ngân hàng C–Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận, theo mã khách hàng số 3800054937 với số tiền vay là 44.000.000đ, mục đích vay để đầu tư chăn nuôi bò, thời hạn vay 05 năm, thỏa thuận lãi suất vay 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn 10,725% (130% lãi suất khi cho vay), hạn trả nợ cuối cùng là ngày 12/3/2023. Trong quá trình vay vốn bà D chỉ trả lãi từ ngày 12/4/2018 đến ngày 12/01/2022 với tiền là 9.037.050 đồng, chưa trả tiền gốc. Từ ngày 13/01/2022 đến nay, bà T1 không chấp hành nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên Ngân hàng yêu cầu bà T1 phải trả nợ, tính đến ngày 19/9/2024 là 58.662.354 đồng. Trong đó: Nợ gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng. Đồng thời yêu cầu bà D phải trả lãi phát sinh theo hợp đồng vay vốn cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng C–Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Quảng Thị T1 và người có nghĩa vụ liên quan ông Quảng S không có mặt để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (HĐXX) từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn Quảng Thị T1 và người có nghĩa vụ liên quan ông Quảng S, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Đề nghị HĐXX căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 BLTTDS, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Quảng Thị T1 phải trả cho Ngân hàng C số tiền còn nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 58.662.354 đồng. Trong đó: nợ gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng. Bà T1 còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa.
Sau khi Hội đồng xét xử nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng C khởi kiện bị đơn bà Quảng Thị T1-là người có nơi cư trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nội dung yêu cầu buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định quan hệ pháp luật của vụ án cần giải quyết là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[1.1] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn và người có nghĩa vụ liên quan: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn bà Quảng Thị T1 và người có nghĩa vụ liên quan ông Quảng S, vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để bị đơn, người liên quan tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng họ vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ họ đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn, người liên quan.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Quảng Thị T1 phải thanh toán nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 58.662.354 đồng. Trong đó: nợ gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng.
[2.1] HĐXX nhận định: Từ những tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra, ngày 12/3/2018, bà Quảng Thị T1 có ký với Ngân hàng C-Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận, hợp đồng vay vốn (giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay) theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, mã khách hàng số 3800054937, với hạn mức sử dụng là 44.000.000đ, lãi suất vay 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn 10,725% (130% lãi suất khi cho vay). Trong quá trình vay vốn bà T1 chỉ trả lãi, cụ thể từ ngày 12/4/2018 đến ngày 12/01/2022, trả lãi với số tiền là 9.037.050 đồng, chưa trả tiền gốc. Tính đến ngày 19/09/2024, bà T1 còn nợ số tiền gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng. Tổng cộng là 58.662.354 đồng. Do bà Quảng Thị T1 vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Quảng Thị T1 phải trả số nợ trên cho Ngân hàng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 20/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[2.2] Về mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng cho vay 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn 10,725% (130% lãi suất khi cho vay) và yêu cầu trả lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng tín dụng. Thấy rằng: Cách tính lãi suất của Ngân hàng là đúng theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, phù hợp với Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng”.
Xét giao dịch giữa Ngân hàng C–Chi nhánh huyện N, tỉnh Ninh Thuận với bị đơn Quảng Thị T1 được xác lập tự nguyện, Mục đích, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, phù hợp Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng.
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, Ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thu hồi nợ. Đối chiếu tài liệu, chứng cứ mà ngân hàng cung cấp cho Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn Quảng Thị T1, người liên quan ông Quảng S vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[2.3] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của BLDS 2015 và Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015, Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa buộc bà Quảng Thị T1 phải trả nợ cho Ngân hàng C đến ngày 19/09/2024, nợ gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng. Tổng cộng 58.662.354 đồng.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C được chấp nhận nên bị đơn bà Quảng Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 2.933.000đồng (cách tính: 5% x 58.662.354đồng, làm tròn số).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92; Khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Điều 117, 280, 351, 357; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
- Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
2.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng C đối với bị đơn bà Quảng Thị T1.
Buộc bà Quảng Thị T1 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng C đến ngày 19/09/2024 với số tiền nợ gốc 44.000.000đồng + nợ lãi 14.662.354 đồng. Tổng cộng là 58.662.354 đồng (năm mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi bốn đồng).
Bà Quảng Thị T1 phải chịu lãi phát sinh từ ngày 20/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Quảng Thị T1 còn phải trả lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về án phí: Buộc bà Quảng Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.933.000đồng (hai triệu, chín trăm ba mươi ba ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3.Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng C có mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/9/2024); Bị đơn, người người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
