|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày 04-6-2024 V/v tranh chấp về hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Thanh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Thu Thảo
- Ông Lê Văn Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31 tháng 5, 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2023/TLST-DS ngày 26-5-2023, về việc tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST - DS ngày 24-4-2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu O, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà O: Ông Lê Trường X, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A, T, Phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (văn bản uỷ quyền ngày 24-5-2023) (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn T; sinh năm 1961 (vắng mặt);
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1959 (có mặt);
- Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1981 (có mặt);
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Tuyết N, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Yến T3, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp B, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang; trụ sở: Khu phố D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn P – Chức vụ: Chi cục trưởng.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông P: Bà Nguyễn Thị Mai L – Chức vụ: Chấp hành viên; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang (văn bản uỷ quyền ngày 22-01-2024) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16-5-2023, nguyên đơn bà Trần Thị Thu O và tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, đại diện theo uỷ quyền của bà O là ông Lê Trường X trình bày:
Ngày 16-4-2021, ông T, bà T1, ông T2 có cầm cố các thửa đất thừa 721, 775, 777 cùng tờ bản đồ HQC2, tổng diện tích 6.730 m², loại đất LN.K+T, địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00485 QSDD/502/QĐUB ngày 10-12-1997 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T và căn nhà, tài sản gắn liền với đất trên cho bà O với giá 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), có hợp đồng cầm đồ kèm theo. Sau đó, bên ông T2 không có khả năng thanh toán nên ông T, bà T1 và ông T2 thống nhất sang nhượng phần nhà, đất và tài sản trên đất nêu trên cho bà O với giá 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) 01 mét ngang (mặt tiền đường tỉnh 865), đo đạc thực tế bao nhiêu mét thì tính thành tiền. Ngày 28-11-2022, bà O với ông T, bà T1, ông T2 đã thống nhất làm hợp đồng đặt cọc, bà O đã giao cho bên ông T, bà T1, ông T2 số tiền cọc 965.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và thỏa thuận đến ngày 28-01-2023 sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao đủ số tiền còn lại theo số mét ngang đo đạc thực tế. Nếu bên bà O vi phạm thỏa thuận đặt cọc nêu trên sẽ mất tiền cọc, bên ông T, bà T1, ông T2 vi phạm không thực hiện chuyển nhượng thì phải trả lại tiền cọc 965.000.000 đồng cho bà O và bồi thường cho bà O số tiền
tương ứng 965.000.000 đồng, có giấy đặt cọc quyền sử dụng đất kèm theo. Cùng ngày, ông T, bà T1, ông T2 có mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên (có lập giấy cho mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28-11-2022) để đi gia hạn thời hạn sử dụng đất do đã hết thời hạn sử dụng đất.
Đến hạn lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T, bà T1 và ông T2 cố ý không thực hiện việc chuyển nhượng cho bà O cũng không đồng ý trả lại tiền cho bà O theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, diện nhiều lý do với mục đích trì hoãn việc trả tiền và không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O, gây thiệt hại cho bà O về kinh tế. Nay, bà O yêu cầu Tòa án giải quyết:
Huỷ giấy đặt cọc quyền sử dụng đất ngày 28-11-2022; ông T, bà T1, ông T2 phải trả cho bà O tiền cọc là 965.000.000 đồng và bồi thường cho bà O số tiền 965.000.000 đồng, tổng cộng 1.930.000.000 đồng.
Tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, bị đơn bà Trần Thị T1 trình bày:
Bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn T hoàn toàn không có cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T đại diện hộ gia đình đứng tên cho bà O, mà con bà và ông T là ông Nguyễn Hữu T2 là người cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đại diện hộ gia đình đứng tên cho bà O, vì ông T2 cần vốn để làm ăn nên bà và ông T mới cho mượn giấy tờ đất để thế chấp vay nợ của bà O. Việc đóng lãi cho bà O thì do ông T2 trực tiếp đóng cho bà O, có biên lai đóng lãi như ông T2 đã trình bày. Bà và ông T không có ý định chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O, giấy đặt cọc quyền sử dụng đất là do bà O soạn thảo, bà O nói với ông bà và ông T là giấy đặt cọc này chỉ để làm tin do đó bà và ông T hoàn toàn không đọc nội dung, không biết nội dung bên trong, vì quá tin tưởng bà O nên bà O kêu bà và ông T ký tên thì bà ký mà không hiểu nội dung. Mặt khác, đất cấp cho hộ mà giấy đặt cọc chỉ có 03 thành viên ký tên trong khi hộ gia đình bà và ông T gồm 05 thành viên.
Bà O lấy giấy đặt cọc này để kiện và yêu cầu phạt cọc, buộc bà, ông T, ông T2 trả lại tiền cọc và bồi thường tiền đặt cọc với tổng số tiền là 1.930.000.000 đồng (một tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng), bà không đồng ý theo yêu cầu của bà O. Bà yêu cầu huỷ giấy đặt cọc bất hợp pháp nêu trên, ông T2 trả vốn gốc cho bà O là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng). Do trước đây ông T2 đã đóng lãi hàng tháng cho bà O, hiện nay ông T2 không còn khả năng đóng lãi nữa, xin được trả vốn gốc.
Tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, bị đơn ông Nguyễn Hữu T2 trình bày:
Vào ngày 16-4-2021, ông có hợp đồng cầm cố cho bà Trần Thị Thu O giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00485 QSDĐ/502/QĐ ngày 10-12-1997, diện tích 6.730m² đất tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang do cha ông là ông
Nguyễn Văn T đại diện hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông cầm cho bà O với giá 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), lãi suất 2,5%/tháng. Ông đã đóng lãi đầy đủ cho bà O hàng tháng, số tiền lãi hàng tháng là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Ông đóng tới ngày 01-01-2022 và vào ngày 01-01-2022 ông có vay thêm của bà O 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cũng với lãi suất 2,5%/tháng, tài sản cầm cố cũng là quyền sử dụng đất nêu trên. Ông đóng lãi cho bà O tháng 01-2022 trên số tiền gốc là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng), mỗi tháng đóng lãi 2,5% với số tiền lãi là 22.500.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng). Tiền lãi mà ông đã đóng cho bà O trên số tiền gốc 800.000.000 đồng từ ngày 16-4-2021 đến ngày 16-01-2022 là 10 tháng x 20.000.000 đồng/tháng = 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ngày 01-01-2022, ông đóng cho bà O tiền lãi của số tiền 100.000.000 đồng mới vay vào ngày 01-01-2022 với số tiền lãi là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Từ ngày 01-02-2022 đến ngày 26-10-2022, ông đóng lãi trên vốn gốc 900.000.000 đồng với số mức lãi 2,5%/tháng, số tiền lãi là 22.500.000 đồng/tháng x 09 tháng = 202.500.000 đồng (hai trăm là hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền lãi mà ông đã đóng cho bà O từ ngày 16-4-2021 đến ngày 26-10-2022 là: 200.000.000 đồng + 2.500.000 đồng + 202.500.000 đồng = 405.000.000 đồng (bốn trăm lẽ năm triệu đồng), có chứng từ kèm theo.
Sau ngày 26-10-2022, ông không còn khả năng đóng lãi cho bà O nữa, bà O yêu cầu ông trả hết số tiền vốn gốc là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng), ông không có tiền trả, ông có hứa với bà O vài tháng sau ông sẽ chạy lo trả tiền cho bà O, bà O không đồng ý. Bà O kêu ông để bà trả lại giấy tờ đất để cha ông thế chấp vay tiền ngân hàng để trả nợ gốc cho bà. Ông chưa vay tiền ngân hàng được thì bà O lại yêu cầu gia đình ông phải ký giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà, bà nói với gia đình ông làm giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ để làm tin, khi nào vay được tiền ngân hàng để trả hết nợ gốc 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) cho bà O thì bà sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) cho ông. Bà O lừa dối gia đình ông nhằm chiếm đất của gia đình ông để trừ nợ chớ thật sự là ông không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O, mà ông chỉ cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền của bà O và ông cũng đã đóng lãi đầy đủ cho bả O đến ngày 26-10-2022. Giấy đặt cọc quyền sử dụng đất là ngày 28-11-2022 là giả tạo, ông yêu cầu Toà án huỷ giấy đặt cọc quyền sử dụng đất nêu trên, vì đất cấp cho hộ mà giấy đặt cọc chỉ có 03 thành viên ký tên, trong khi gia đình ông có 05 thành viên. Ông không chấp nhận yêu cầu của bà O phạt cọc vì ông không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O.
Qua yêu cầu khởi kiện của bà O, ông đồng ý huỷ giấy đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28-11-2022, đồng ý trả lại cho bà O số tiền
900.000.000 đồng, xin không trả lãi vì đã đóng lãi từ ngày 16-4-2021 đến ngày 26-10-2022 cho bà O đầy đủ với số tiền 405.000.000 đồng như đã nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T, trong quá trình tố tụng đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà O.
Tại bản tự khai ngày 16-5-2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị Tuyết N trình bày:
Chị là con của bà Trần Thị Thu O. Ông T, bà T1, ông T2 cầm cố các thửa đất số 721, 775, 777 cùng tờ bản đồ HQC2, tổng diện tích 6.730 m², loại đất LN.K+T, địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00485 QSDD/502/QĐUB ngày 10-12-1997 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T và căn nhà, tài sản gắn liền với đất cho bà O với giá 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), có hợp đồng cầm đồ kèm theo. Sau đó, bên ông T2 không có khả năng thanh toán nên ông T, bà T1 và ông T2 thống nhất sang nhượng phần nhà, đất và tài sản trên đất nêu trên cho bà O với giá 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) 01 mét ngang (mặt tiền đường tỉnh 865), đo đạc thực tế bao nhiêu mét thì tính thành tiền. Ngày 01-01-2022, mẹ chị là bà O không có ở nhà, chị thay mẹ xử lý công việc. Ông T, ông T4 có đến nhờ mẹ chị đưa thêm tiền, mẹ chị có nhờ chị lấy 100.000.000 đồng đưa cho ông T, ông T2; chị, ông T và ông T2 cùng ký vào biên nhận.
Tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Yến T3 trình bày:
Bà là con ruột của ông T và bà T1, bà thống nhất với ý kiến của bà T1.
Tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Bà là con ruột của ông T và bà T1, bà thống nhất với ý kiến của bà T1.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 23-10-2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn V trình bày:
Ngày 23-3-2019 âm lịch ông có hợp đồng thuê 05 công đất của bà T1, ông T để trồng khóm, thời hạn thuê đến ngày 20-3-2024, tiền thuê đất là 25.000.000 đồng. Sau khi nhận đất, ông đã trồng khóm cho đến nay. Đối với việc tranh chấp giữa bà O với ông T, bà T1, ông T2 ông không có ý kiến gì, Toà xử giao đất cho ai thì ông trả cho người đó. Về phần khóm ông đã trồng trên đất, ông sẽ thương lượng với chủ đất để giải quyết, không có tranh chấp trong vụ án này.
Tại biên bản Tòa án hòa giải ngày 01-3-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước có đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Mai L trình bày:
Ông T, bà T1 là người phải thi hành án cho ông Huỳnh Văn H1 và ông
Huỳnh Duy K số tiền 551.180.000 đồng và lãi suất chận thi hành án.
Qua xác minh, hộ ông T có tài sản là quyền sử dụng các thửa đất số 721, 777 và 1606 nêu trên. Ông Huỳnh Duy K có đơn yêu cầu Toà án xác định phần quyền sử dụng đất của thành viên trong quyền sử dụng đất chung của hộ ông T và phần quyền sở hữu của thành viên hộ ông T đối với căn nhà trên đất, Toà án nhân dân huyện Tân Phước đang thụ lý giải quyết. Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang chờ kết quả giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Phước về việc xác định phần tài sản của ông T, bà T1 trong tài sản chung của hộ ông T để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm thi hành án cho ông H1, ông K theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, ông X yêu cầu hủy giấy đặt cọc ngày 28-11-2022, yêu cầu ông T, bà T1, ông T2 trả lại cho bà O số tiền 965.000.000 đồng và bồi thường cho bà O số tiền 965.000.000 đồng, tổng cộng yêu cầu ông T, bà T1, ông T2 trả cho bà O số tiền 1.930.000.000 đồng; bà T1, ông T2 đồng ý hủy giấy đặt cọc ngày 28-11-2022, trả lại cho bà O số tiền 900.000.000 đồng, không đồng ý bồi thường.
Kiểm sát viên phát biểu: Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục về tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà O về việc hủy giấy đặt cọc, không chấp nhận yêu cầu của bà O về việc phạt cọc, buộc ông T, bà T1, ông T2 trả lại cho bà O số tiền vay 900.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định; buộc bà O, ông T, bà T1, ông T2 chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án Tranh chấp về hợp đồng đặc cọc; bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T2 cư trú tại huyện T, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Tuyết N, bà Nguyễn Thị Yến T3, bà Nguyễn Thị Bích H, ông Huỳnh Văn V, đại diện theo ủy quyền của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Tân Phước là bà Nguyễn Thị Mai L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông T, chị N, bà T3, bà H, ông V, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước.
[3]. Về nội dung vụ án: Theo ông X trình bày thì bà O có cho ông T2 vay 02 lần số tiền 900.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 2,5%/tháng. Sau khi vay, ông T2 có trả lãi được số tiền là 237.000.000 đồng. Do không có khả năng trả lãi tiếp nên ngày 28-11-2022, ông T, bà T1, ông T2 ký giấy đặt cọc chuyển nhượng cho bà O các thửa đất số 721, 775, 777 cùng tờ bản đồ HQC2, tổng diện tích 6.730 m², loại đất LN.K+T, địa chỉ tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00485 QSDD/502/QĐUB ngày 10-12-1997 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T và căn nhà, tài sản gắn liền với đất với số tiền là 965.000.000 đồng.
Bà T1, ông T2 thì cho rằng chỉ có vay của bà O 02 lần số tiền là 900.000.000 đồng, không có nhận tiền đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng các diện tích đất trên cho bà O.
[4]. Xét giấy đặt cọc quyền sử dụng đất ngày 28-11-2022 ghi 03 thửa đất số: 721, 775, 777 diện tích 6730 m² là không đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hộ ông T đứng tên vì thửa 775 diện tích 466 m², đã chuyển nhượng 186,5m², hiện chỉ còn là 279,5m², thửa mới là 1606; trên thửa đất số 777 có ngôi nhà của ông T, bà T1 nhưng hợp đồng đặt cọc không đề cập đến ngôi nhà này; giấy đặt cọc không thể hiện bên nhận tiền cọc đã nhận số tiên 965.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định “ Giấy đặt cọc quyền sử dụng đất” ngày 28-11-2022 là hợp đồng giả cách để che đậy hợp đồng vay số tiền 800.000.000 đồng và hợp đồng vay số tiền 100.000,000 đồng mà ông T2 đã vay của bà O. Do đây là họp đồng giả cách nên vô hiệu.
[5]. Hội đồng xét xử xác định ngày 26-4-2021, ông T2 có vay của bà O số tiền 800.000.000 đồng và ngày 01-01-2022 vay của bà O số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất là 2,5%/tháng và ông T2 đã trả cho bà O được số tiền lãi là 237.000.000 đồng, ngày trả lãi cuối cùng cho bà O là ngày 18-8-2022.
Ông T2 cho rằng đã trả cho bà O số tiền lãi là 400.000.000 đồng là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày này của ông T2.
[6]. Mức lãi suất bà O cho ông T2 vay là 2,5%/tháng là cao so với quy định của pháp luật, cần điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định mức lãi suất là 1,66%/tháng.
- Đối với số tiền 800.000.000 đồng, ông T2 vay vào ngày 16-4-2021, tính đến ngày 18-8-2022 là 16 tháng, tiền lãi là 212.480.000 đồng (800.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 16 tháng = 212.480.000 đồng);
- Đối với số tiền 100.000.000 đồng, ông T2 vay vào ngày 01-01-2022, tính đến ngày 18-8-2022 là 08 tháng, tiền lãi là 13.280.000 đồng (100.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 08 tháng = 13.280.000 đồng);
Tổng cộng tiền lãi theo quy định ông T2 phải trả cho bà O là 225.760.000 đồng (212.480.000 đồng + 13.280.000 đồng = 225.760.000 đồng). Ông T2 đã trả cho bà O số tiền lãi là 237.000.000 đồng, nên đã trả vượt quá số tiền 11.240.000 đồng, cần được cấn trừ số tiền này vào số tiền nợ gốc 900.000.000 đồng, nên số tiền nợ gốc còn lại ông T2 phải trả cho bà O là 888.760.000 đồng.
Đối với số tiền lãi của số tiền 888.760.000 đồng ông T2 phải trả cho bà O từ ngày 18-8-2022 đến nay là 324.575.152 đồng (888.760.000 đồng x 1,66%/tháng x 22 tháng = 324.575.152 đồng), làm tròn là 324.575.200 đồng
[7]. Xét yêu cầu của bà O là có cơ sở 01 phần, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà O, hủy giấy đặt cọc quyền sử dụng đất ngày 28-11-2022, không chấp nhận yêu cầu của bà O yêu cầu ông T, bà T1, anh T2 bồi thường số tiền 965.000.000 đồng. Buộc ông T, bà T1, ông T2 liên đới trả cho bà O số tiền vốn vay là 888.760.000 đồng và 324.575.200 đồng tiền lãi, tổng cộng là 1.213.335.200 đồng (888.760.000 đồng + 324.575.200 đồng = 1.213.335.200 đồng)
[8]. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00485 QSDD/502/QĐUB ngày 10-12-1997 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử buộc bà O trả lại cho ông T, bà T1, ông T2.
[9]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ trong vụ án này là 8.500.000 đồng. Do Toà án chấp nhận một phần yêu cầu của bà O nên mỗi bên đương sự phải chịu ½ là 4.250.000 đồng. Bà O đã nộp 8.500.000 đồng nên buộc ông T, bà T1, ông T2 phải trả lại bà O số tiền 4.250.000 đồng.
[10]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà O được Tòa án chấp nhận một phần, nên bà O, ông T, bà T1, ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11]. Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 117, 124, 328, 463, 466, 468, 357 của Bộ luật Dân sự, Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu O.
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Giấy đặt cọc quyền sử dụng đất) ngày 28-11-2022 giữa bà Trần Thị Thu o với ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T2 vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thi T5, ông Nguyễn Hữu T2 trả cho bà Tần Thị Thu O1 số tiền vốn vay và tiền lãi là 1.213.335.200 đồng (một tỷ hai trăm mười ba triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
- Buộc bà Trần Thị Thu O trả lại cho ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00485 QSDD/502/QĐUB ngày 10-12-1997 do hộ ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tiền Giang đứng tên.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T2 trả lại cho bà Trần Thị Thu O số tiền 4.250.000 đồng (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)
- Về án phí:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thu O yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T2 bồi thường số tiền 965.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi lăm triệu đồng).
Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T1, ông Nguyễn Hữu T6 liên đới chịu 48.400.100 đồng (bốn mươi tám triệu bốn trăm nghìn một trăm đồng)
- Bà Trần Thị Thu O chịu 40.950.000 đồng ( bốn mươi triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp là 34.950.000 đồng (ba mươi bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0020086 ngày 23-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, bà O phải nộp tiếp số tiền là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng)
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Bà O, bà T1, ông T6 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông T, chị N, bà T3, bà H, ông V, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự:
- + NĐ: (01);
- + BĐ: (03);
- + NCQLNVLQ: (05);
- - TAND tỉnh Tiền Giang;
- - VKSND. H. Tân Phước;
- - Chi cục THADS. H. Tân Phước;
- - Lưu HS, AV.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thanh Liêm |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp về hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà O tranh chấp với ông T, bà T1, ông T2
