|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2023/DSST
Ngày: 21/8/2023
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân.
- ông Võ Văn Tường
- ông Nguyễn Thanh Hải
Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp "Quyền sử dụng đất và thừa kế" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101A/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- ông Dương Văn T, sinh năm 1970. Vắng mặt
- bà Ngô Thị Lệ H, sinh năm 1970. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: số A ấp B, xã G, huyện P, TP ..
Đại diện theo ủy quyền: bà Phan Thị Thanh T1, sinh năm 1998. Địa chỉ: số A đường L, khu V, phường T, quận B, TP (văn bản ủy quyền ngày 07/9/2022). Có mặt
* Bị đơn: ông Dương Văn Đ, sinh năm 1955. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP. (chết)
Hàng thừa kế tham gia tố tụng:
- bà Lê Thị Loan A, sinh năm 1958. Vắng mặt
- ông Dương Hoàng H1, sinh năm 1991. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP
- ông Dương Anh T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: phường A, quận N, TP .. Địa chỉ liên hệ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền cho bà Loan A, ông T2 và ông H1:
- ông Hồ Văn P, sinh năm 1989. Địa chỉ: C, khu V, phường A, quận N, TP .. Có mặt
- bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989. Địa chỉ: B, hẻm I, M, phường X, quận N, TP .. Địa chỉ liên hệ: 378E12/7A, khu V, phường A, quận N, TP .. Vắng mặt
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- ông Dương Văn T3, sinh năm 1950. Địa chỉ: số D, tổ C, khu V, đường C, phường B, quận B, TP . (C)
Hàng thừa kế tham gia tố tụng:
- 1.1 bà Võ Thị X, sinh năm 1951. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Xin vắng mặt
- 1.2. bà Dương Thị Yến T4, sinh năm 1969. Địa ch: tổ D, ấp C, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- 1.3. bà Dương Thị Ngọc T5, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
- 1.4. bà Dương Thị Mộng T6, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền cho bà T4, bà T5 và bà T6:
- 1.4.1 ông Hồ Văn P, sinh năm 1989. Địa chỉ: C, khu V, phường A, quận N, TP .. Có mặt
- 1.4.2. bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989. Địa chỉ: B, hẻm I, M, phường X, quận N, TP .. Địa chỉ liên hệ: 378E12/7A, khu V, phường A, quận N, TP .. Vắng mặt
- ông Dương Văn V, sinh năm 1955. Địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, TP .. Xin vắng mặt
- ông Dương Văn T7, sinh năm 1963. Địa chỉ: tổ A, ấp T, xã G, huyện P, TP .. Xin vắng mặt
- bà Dương Thị Kim C, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền:
- 4.1 ông Hồ Văn P, sinh năm 1989. Địa chỉ: C, khu V, phường A, quận N, TP .. Có mặt
- 4.2. bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989. Địa chỉ: B, hẻm I, M, phường X, quận N, TP .. Địa chỉ liên hệ: 378E12/7A, khu V, phường A, quận N, TP .. Vắng mặt
- bà Dương Thị Hồng H2, sinh năm 1966. Địa chỉ: khu V, phường P, quận Ô, TP .. Địa chỉ liên hệ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
- bà Dương Thị H3, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp B, xã G, huyện P, TP .. Vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền:
- 6.1 ông Hồ Văn P, sinh năm 1989. Địa chỉ: C, khu V, phường A, quận N, TP .. Có mặt
- 6.2. bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989. Địa chỉ: B, hẻm I, M, phường X, quận N, TP .. Địa chỉ liên hệ: 378E12/7A, khu V, phường A, quận N, TP .. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho nguyên đơn – bà Phan Thị Thanh T1 trình bày:
Ông T và bà H2 được cha mẹ cho một phần đất và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ở nông thôn, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Cha mẹ của ông T được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00110, tại thửa đất số 226, TBĐ 25, diện tích 2.379m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Quá trình sử dụng các anh em xung quanh lấn chiếm phần đất tại thửa 183 của ông T, bà H2 và các anh em tranh chấp luôn di sản thừa kế của ông H4 và bà H5. Do các bên không tự thỏa thuận được cách giải quyết nên ông T, bà H2 khởi kiện. Ông T, bà H2 thống nhất theo bản trích đo địa chính số 109/TTKTTNMT ngày 29/12/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Ông T, bà H2 đồng ý thỏa thuận với các anh em trong gia đình. Đối với thửa đất 183 ông T, bà H2 yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 37,8m2, loại đất ONT; Tại thửa 226 các anh em trong gia đình có yêu cầu chia thừa kế nên ông T yêu cầu nhận kỹ phần thừa kế của cha mẹ để lại, ông T yêu cầu nhận phần đất có diện tích 172,8m², loại đất CLN, ông T đồng ý nhập vào tài sản chung đứng tên vợ chồng. Cụ thể, ông T và bà H2 yêu cầu được nhận phần đất tại vị trí B có diện tích 210,6m² (trong đó có 37,8m² loại đất ở nông thôn và 172,8m² loại đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226. Cây trồng và vật kiến trúc trên đất không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
Theo đơn phản tố và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho các bị đơn – ông Hồ Văn P trình bày:
Trước đây ông H4, bà H5 lớn tuổi nên cho ông T và bà H2 đứng tên một phần đất để vay ngân hàng và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Ngoài ra ông H4 và bà H5 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00110, tại thửa đất số 226, TBĐ 25, diện tích 2.379m², loại đất trồng CLN, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Quá trình sử dụng đất xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa 183 và tranh chấp di sản thừa kế của ông H4, bà H5 để lại tại thửa 226 mà không tự thỏa thuận được cách giải quyết.
Ông Đ chết vào năm 2021, có vợ là bà Loan A và có 02 người con là ông T2 và ông H1. Nay bà Loan A, ông T2 và ông H1 yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 24,5m², loại đất ONT, thuộc thửa 183 và yêu cầu nhận thừa kế của ông H4, bà H5 phần đất có diện tích 134,9m², loại đất CLN, thuộc thửa 226. Cụ thể, bà Loan A, ông T2 và ông H1 yêu cầu được nhận phần đất tại vị trí F có diện tích 159,4m² (trong đó có 24,5m² loại đất ONT và 134,9m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226. Cây trồng và vật kiến trúc trên đất không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Võ Thị X trình bày: Chồng bà là ông Dương Văn T3 chết năm 2022. Trong vụ án này bà không có yêu cầu gì, bà X từ chối nhận di sản do ông H4, bà H5 để lại. Bà X nhường kỹ phần thừa kế lại cho bà Dương Thị H3 nhận để lo thờ cúng cho ông H4, bà H5.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho bà T4, bà T8 và bà T1 – ông Hồ Văn P trình bày:
Cha của bà T4, bà T5 và bà T1 là ông Dương Văn T3 chết năm 2022. Trong vụ án này bà T4, bà T5 và bà T1 không có yêu cầu gì, bà T4, bà T5 và bà T1 từ chối nhận di sản do ông H4, bà H5 để lại và đồng ý nhường kỹ phần thừa kế lại cho bà Dương Thị H3 nhận để lo thờ cúng cho ông H4, bà H5.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Dương Văn V trình bày: Trước đây cha mẹ lớn tuổi nên cho ông T và bà H2 đứng tên một phần đất để vay ngân hàng và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ONT. Ngoài ra ông H4 và bà H5 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00110, tại thửa đất số 226, TBĐ 25, diện tích 2.379m², loại đất trồng CLN, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Quá trình sử dụng đất xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa 183 và tranh chấp di sản thừa kế của ông H4, bà H5 để lại tại thửa 226 mà không tự thỏa thuận được cách giải quyết.
Nay ông T7 yêu cầu nhận thừa kế của ông H4, bà H5 phần đất tại vị trí A có diện tích 209,9m² (loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 226. Cây trồng và vật kiến trúc trên đất không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
Theo đơn yêu cầu độc lập và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho bà H3 – ông Hồ Văn P trình bày:
Trước đây ông H4, bà H5 lớn tuổi nên cho ông T và bà H2 đứng tên một phần đất để vay ngân hàng và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Ngoài ra ông H4 và bà H5 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00110, tại thửa đất số 226, TBĐ 25, diện tích 2.379m², loại đất trồng CLN, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Quá trình sử dụng đất xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa 183 và tranh chấp di sản thừa kế của ông H4, bà H5 để lại tại thửa 226 mà không tự thỏa thuận được cách giải quyết. Bà H3 thống nhất theo bản trích đo địa chính số 109/TTKTTNMT ngày 29/12/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Ông H4 chết vào năm 2011, bà H5 chết vào năm 2006 không để lại di chúc. Ông bà có tất cả 08 người con là ông T3, ông Đ, ông V, ông T7, bà C, bà H2, ông T và bà H3. Ngoài ra ông bà không có con nuôi hay con riêng nào khác.
Nay bà H3 yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 214,8m², loại đất ONT, thuộc thửa 183 và yêu cầu nhận thừa kế của ông H4, bà H5 phần đất có diện tích 1.377,7m², loại đất CLN, thuộc thửa 226. Cụ thể, bà H3 yêu cầu được nhận phần đất tại vị trí C có diện tích 1.377,7m² (có 214,8m² loại đất ONT và 1.162,9m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226. Trong phần đất có diện tích 1.162,9m² loại đất CLN có 01 kỹ phần thừa kế của bà Dương Thị Hồng H2, hiện tại bà H3 đang trực tiếp quản lý nên bà H3 yêu cầu nhận và đồng ý trả lại giá trị cho đất cho bà H2. Cây trồng và vật kiến trúc trên đất không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
Theo đơn yêu cầu độc lập và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện cho bà C – ông Hồ Văn P trình bày:
Trước đây ông H4, bà H5 lớn tuổi nên cho ông T và bà H2 đứng tên một phần đất để vay ngân hàng và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Ngoài ra ông H4 và bà H5 được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số H00110, tại thửa đất số 226, TBĐ 25, diện tích 2.379m², loại đất trồng CLN, đất tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Quá trình sử dụng đất xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất tại thửa 183 và tranh chấp di sản thừa kế của ông H4, bà H5 để lại tại thửa 226 mà không tự thỏa thuận được cách giải quyết. Bà C thống nhất theo bản trích đo địa chính số 109/TTKTTNMT ngày 29/12/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.
Nay bà C yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 22,9m², loại đất ONT, thuộc thửa 183 và yêu cầu nhận thừa kế của ông H4, bà H5 phần đất có diện tích 177m², loại đất CLN, thuộc thửa 226. Cụ thể, bà C yêu cầu được nhận phần đất tại vị trí E có diện tích 199,9m² (trong đó có 22,9m² loại đất ONT và 177m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226. Cây trồng và vật kiến trúc trên đất không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện cho nguyên đơn – bà T1 còn yêu cầu ghi nhận lối đi chung tại vị trí G theo bản trích đo địa chính số 723/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C và thể hiện lối đi chung trên giấy chứng nhận QSDĐ sau này các bên được cấp. Đồng thời yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng giá đất chia thừa kế theo giá nhà nước quy định.
Đại diện theo ủy quyền cho bà Loan A, ông T2, ông H1, bà T4, bà T5, bà T1, bà C, và bà H3 – ông P thống nhất theo yêu cầu tại phiên tòa của bà T1.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử đúng quy định pháp luật, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp nhưng về thời hạn xét xử là có vi phạm. Về kiểm sát tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, công nhận cho các đương sự phần đất tại các vị trí theo bản trích đo địa chính số 723/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, bà H3 có nghĩa vụ trả lại cho bà H2 giá trị 01 kỹ phần thừa kế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất thuộc quyền sử dụng đất của mình được cấp, bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan yêu cầu chia thừa kế nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Quyền sử dụng đất và Thừa kế". Đất tranh chấp tọa lạc tại ấp B, xã G, huyện P, TP .. Do đó, theo quy định khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được cách giải quyết toàn bộ vụ án. Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về nội dung:
Ông Dương Văn T và bà Ngô Thị Lệ H được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH00187 vào ngày 19/5/2010, tại thửa đất số 183, TBĐ 25, diện tích 300m², loại đất ONT. Đến thời điểm này nhà nước chưa có Quyết định thu hồi về phần đất này cũng như không có ai khiếu nại về việc cấp giấy là đúng hay không. Do vậy, ông T và bà H là chủ sử dụng hợp pháp. Phần đất này phát sinh tranh chấp, tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được cách giải quyết đối với phần đất này mà không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với phần đất tại thửa số 226, TBĐ 25, theo giấy chứng nhận QSDĐ số H00110 do UBND huyện P cấp ngày 07/11/2005 đứng tên ông Dương Văn H6. Hiện nay ông H6 đã chết, các đồng thừa kế không thoả thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế nên phát sinh tranh chấp. Các đương sự thống nhất về quan hệ huyết thống, ông H6 chết vào năm 2011, vợ là bà H5 chết vào năm 2006, không để lại di chúc. Ông H6 và bà H5 có tất cả 08 người con là ông T3, ông Đ, ông V, ông T7, bà C, bà H, ông T và bà H3. Ngoài ra ông bà không có con nuôi hay con riêng nào khác. Trong 08 người con của ông H6 và bà H5 thì ông Đ chết vào năm 2021, có vợ là bà Loan A và có 02 người con là ông T2 và ông H1; Ông T3 chết vào năm 2022, có vợ là bà X và 03 người con là bà T4, bà T5 và bà T1.
Tại phiên tòa các đương sự thống nhất giao cho ông T và bà H nhận phần đất tại vị trí B có diện tích 210,6m² (trong đó có 37,8m² loại ONT và 172,8m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226; Giao cho ông T7 phần đất tại vị trí A có diện tích 209,9m² (loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 226; Giao cho bà C phần đất tại vị trí E có diện tích 199,9m² (trong đó có 22,9m² loại đất ONT và 177m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226; Giao cho bà L Anh, ông T2 và ông H1 phần đất tại vị trí F có diện tích 159,4m² (trong đó có 24,5m² loại đất ONT và 134,9m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226; Giao cho bà H3 phần đất tại vị trí D có diện tích 243,1m² (loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 226 và phần đất tại vị trí C có diện tích 1320,5m² (trong đó có 180,7m² loại đất ONT và 1139,8m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226.
Xét thấy, phần đất tại thửa 226, theo giấy chứng nhận QSDĐ số H00110 do UBND huyện P cấp ngày 07/11/2005 đứng tên ông Dương Văn H6, diện tích theo giấy là 2379m² (đo đạc thực tế là 2100,6m²). Hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thế vị có 08 kỹ phần, tương đương 262,6m². Ông T, bà H, bà Loan A, ông T2, ông H1, bà C, ông T7 và bà H3 có yêu cầu nhận thừa kế, phần đất được nhận ít hơn 01 kỹ phần thừa kế nhưng các đương sự đồng ý. Đồng thời, ông V, bà X, bà T4, bà T5 và bà T1 có ý kiến nhường kỹ phần thừa kế của mình lại cho bà H3. Xét, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với kỹ phần thừa kế của bà Dương Thị Hồng H2, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải dành 01 kỹ phần thừa kế cho bà H2. Tại thửa 226 là đất trồng cây lâu năm diện tích 01 kỹ phần nhỏ khó canh tác, quá trình sử dụng bà H3 đã cải tạo và trồng cây ăn trái như hiện nay. Tuy chưa ghi nhận được ý kiến của bà H2, nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng giao đất cho bà H3 sử dụng sẽ tốt hơn và buộc bà H3 có nghĩa vụ trả lại giá trị đất cho bà H2 theo giá thị trường cũng đảm bảo quyền lợi của bà H2. Giá đất theo biên bản định giá ngày 17/10/2022, giá đất trồng cây lâu năm theo giá thị trường là 1.750.000đ/1m² X 262,6m² = 459.550.000 đồng.
Ngoài ra các đương sự còn thống nhất dành vị trí G có diện tích 57,2m² (trong đó có 34,1m² loại đất ONT và 23,1m² loại đất CLN) làm lối đi chung. Đồng thời, thể hiện lối đi chung 01m trên giấy chứng nhận QSDĐ sau này các bên được cấp. Xét, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Cây trồng và vật kiến trúc trên đất các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: tổng chi phí đo đạc, định giá và lấy bản vẽ là 8.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 8.000.000 đồng. Các đương sự thống nhất chia đều cho 05 phần, ông T và bà H2 tự nguyện chịu 1.600.000 đồng; bà Loan A, ông H1 và ông T2 tự nguyện chịu 1.600.000 đồng; bà C tự nguyện chịu 1.600.000 đồng; ông T7 tự nguyện chịu 1.600.000 đồng và bà H3 tự nguyện chịu 1.600.000 đồng. Do đó, bà Loan A, ông H1 và ông T2 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông T và bà H2 số tiền 1.600.000 đồng; bà C, ông T7 và bà H3 mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho ông T và bà H2 số tiền 1.600.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[5.1] Ông T và bà H2 tự nguyện chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng.
[5.2] Nguyên đơn, bị đơn, bà C và bà H3 tự nguyện chịu án phí dân sự có giá ngạch tương ứng với tài sản được nhận. Ông T7 được miễn án phí do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
[5.3] Bà H3 phải chịu 22.382.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
[6] Về quyền kháng cáo của các đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Dương Văn T và bà Ngô Thị Lệ H.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Lê Thị Loan A, ông Dương Hoàng H1 và ông Dương Anh T2.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Dương Văn T7, bà Dương Thị Kim C và bà Dương Thị H3.
- Ông Dương Văn T và bà Ngô Thị Lệ H được nhận phần đất tại vị trí B có diện tích 210,6m² (trong đó có 37,8m² loại ONT và 172,8m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226.
- Ông Dương Văn T7 được nhận phần đất tại vị trí A có diện tích 209,9m² (loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 226.
- Bà Dương Thị Kim C được nhận phần đất tại vị trí E có diện tích 199,9m² (trong đó có 22,9m² loại đất ONT và 177m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226.
- Bà Lê Thị Loan A, ông Dương Hoàng H1 và ông Dương Anh T2 được nhận phần đất tại vị trí F có diện tích 159,4m² (trong đó có 24,5m² loại đất ONT và 134,9m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226.
- Bà Dương Thị H3 được nhận phần đất tại vị trí D có diện tích 243,1m² (loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 226 và phần đất tại vị trí C có diện tích 1320,5m² (trong đó có 180,7m² loại đất ONT và 1139,8m² loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 183 và một phần thửa đất số 226.
Các đương sự được quyền tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ghi chú vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự phần đất tại vị trí G có diện tích 57,2m² (trong đó có 34,1m² loại đất ONT và 23,1m² loại đất CLN) và lối đi 01m làm lối đi chung.
(Kèm theo bản trích đo địa chính số 723/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
- Buộc bà Dương Thị H3 có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị Kim H7 số tiền 459.550.000đ (bốn trăm năm mươi chín triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ khi án có hiệu lực và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về chi phí tố tụng: Ông T và bà H7 tự nguyện chịu 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) đã nộp xong; bà Loan A, ông H1 và ông T2 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông T và bà H7 số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng); bà C, ông T7 và bà H3 mỗi người có nghĩa vụ trả lại cho ông T và bà H7 số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) khi án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- 11.1/ ông Dương Văn T và bà Ngô Thị Lệ H tự nguyện chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự không có giá ngạch, chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 005119 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền thành án phí.
- 11.2/ ông Dương Văn T và bà Ngô Thị L1 phải chịu 1.244.000đ (một triệu hai trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.
- 11.3/ bà Dương Thị Kim C phải chịu 1.274.400₫ (một triệu hai trăm bảy mươi bốn ngàn bốn trăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Bà C được nhận lại 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007929 ngày 15/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- 11.4/ bà Dương Thị H3 phải chịu 30.588.500đ (ba mươi triệu năm trăm tám mươi tám ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Bà H3 được nhận lại 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007930 ngày 15/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- 11.5/ bà Lê Thị Loan A, ông Dương Hoàng H1 và ông Dương Anh T2 phải chịu 971.000đ (chín trăm bảy mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Bà Loan A, ông H1 và ông T2 được nhận lại 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007928 ngày 15/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- 11.6/ Miễn án phí cho ông Dương Văn T7.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án đối với các đương sự có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Phi Long |
Bản án số 48/2023/DSST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế
- Số bản án: 48/2023/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn T - Dương Văn Đ
