Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH B

Số: 48/2021/HNGĐ - ST

Ngày 20 tháng 7 năm 2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Nhất, Bà Nguyễn Thị Vượng

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố B

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà - kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 111/2021/TLST – HNGĐ ngày 01/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐST-DS ngày 10/6/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 29/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30/6/2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Hồng P – sinh năm 1982 (Có mặt)
    Địa chỉ: Số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang 2, phường LL, thành phố B, tỉnh B
  2. Bị đơn: Chị Kiều Thị T, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
    Địa chỉ: Số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang 2, phường LL, Thành phố B, tỉnh B

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 23/3/2021 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Kiều Thị T đã tìm hiểu, quyết định kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng đã đăng ký kết hôn tại UBND phường LL, thành phố B ngày 29/10/2003 và tổ chức lễ cưới tại gia đình hai bên theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về chung sống với nhau và ở chung với bố, mẹ anh tại thành phố B. Trong cuộc sống vợ chồng, những năm đầu tương đối yên ổn, hòa thuận, vợ chồng đã có hai con chung. Năm 2013 chị T đi làm công nhân ở công ty Hồng Hải, được khoảng 2 năm thì bỏ làm, sau đó thì không chịu làm ăn gì, chỉ ham chơi bời, sau này anh phát hiện chị T còn đánh cờ bạc, ghi lô đề, tiêu tán tài sản, anh ngăn cản không được, vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn gay gắt từ năm 2016. Từ 2016 cho đến năm 2019 thì cuộc sống vợ chồng vẫn duy trì, nhưng mâu thuẫn, cãi vã gay gắt thường xuyên xảy ra. Gia đình, bố, mẹ hai bên đã khuyên bảo nhiều song chị T không thay đổi. Từ khoảng tháng 4 năm 2019 đến nay thì vợ chồng anh sống ly thân, chị T đã dọn ra thuê nhà ở bên ngoài. Vợ chồng không còn nói chuyện với nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Kiều Thị T ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11/9/2004 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 23/12/2007. Hiện nay các con đều khỏe mạnh và đang ở cùng anh, ông, bà nội của các cháu tại số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang 2, phường LL, thành phố B, tỉnh B. Vợ chồng ly hôn, anh yêu cầu Tòa án giao cả hai con cho anh nuôi vì hai năm nay anh vẫn là người nuôi con, chị T không có trách nhiệm gì với các con, không có nghề nghiệp, nơi ở, thu nhập không ổn định. Anh không yêu cầu chị T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, do anh làm nghề lái xe, mức thu nhập là 15.000.000 đồng/tháng, ngoài ra còn có ông, bà nội phụ giúp trông các cháu.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Anh không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Kiều Thị T đã được triệu tập đến Tòa án làm việc, song không đến Tòa án, không có bản khai gửi Tòa án.

Cháu Nguyễn Thị Thu H trình bày: cháu là con của bố P, mẹ T, do bố, mẹ mâu thuẫn nên mẹ cháu không còn ở cùng nhà, không còn chung sống với bố nữa. Hiện mẹ cháu thuê nhà trọ bên ngoài, nhưng không thuê trọ cụ thể ở một nơi, thỉnh thoảng lại chuyển nơi ở nên không có địa chỉ cụ thể. Mỗi lần Tòa án gửi giấy báo cháu đều gọi điện thoại liên lạc thông báo cho mẹ biết, nhưng mẹ bảo không đến. Hiện nay mẹ cháu vẫn liên lạc với hai chị em qua điện thoại, khi cần gặp thì gọi điện hẹn gặp. Nếu bố, mẹ cháu ly hôn thì cháu xin ở cùng bố vì hiện nay bố vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng hai chị em ổn định.

Cháu Nguyễn Tuấn A trình bày: Cháu là con của bố P, mẹ T, hiện nay cháu khỏe mạnh. Bố, mẹ cháu mâu thuẫn và đã sống ly thân khoảng một năm nay. Mẹ cháu vẫn thường xuyên liên lạc với cháu và chị qua điện thoại, qua lại thăm nom hai chị em, cháu chỉ biết mẹ hiện vẫn sống tại thành phố B, nhưng không biết địa chỉ nơi ở của mẹ. Mẹ có được cháu và chị gọi điện thông báo việc Tòa án triệu tập đến làm việc. Nay bố, mẹ ly hôn cháu xin ở cùng bố vì hiện nay cuộc sống của ba bố con ổn định, bố vẫn đảm bảo các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hai chị em đầy đủ.

Tại biên bản xác minh của Tòa án, đại diện tổ dân phố Tiền Giang, phường LL, thành phố B xác nhận chị Kiều Thị T, sinh năm 1984 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang, phường LL. Hiện nay chị T không có mặt tại địa P, chị T đi đâu, làm gì, ở đâu thì chính quyền địa P không rõ, chỉ biết thỉnh thoảng chị T mới về nhà tại địa chỉ trên nhưng sau đó lại đi ngay. Giữa chị T, anh P có xảy ra mâu thuẫn nhưng địa P không rõ nguyên nhân mâu thuẫn, hiện chị Túy, anh P đã sống ly thân, hai con vẫn sống cùng anh P.

Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã không thực hiện đúng đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Đề nghị căn cứ điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227, điều 228; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị xử cho anh Nguyễn Hồng P và chị Kiều Thị T ly hôn, giao cho anh P được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi con chung Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11/9/2004 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 23/12/2007. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung không đặt ra xem xét. Về án phí, anh P phải chịu. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hồng P cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp là hoàn toàn hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện.

[2].Về thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung, bị đơn cư trú tại thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và HĐXX đã chấp hành đúng pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa ngày 30/6/2021 và ngày 20/7/2021 bị đơn vắng mặt không lý do, nên HĐXX căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[4]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, xác minh tại chính quyền địa P cho thấy, anh Nguyễn Hồng P và chị Kiều Thị T đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã phường LL, thành phố B, tỉnh B ngày 29/10/2003, HĐXX xác định quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị T là hợp pháp.

Về mâu thuẫn: Từ lời khai của nguyên đơn, lời khai của các con anh P, chị T cũng như xác minh với đại diện chính quyền địa P cho thấy anh P và chị T chung sống với nhau cho đến năm 2016 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, từ năm 2019 do mâu thuẫn gay gắt, chị T đã không sống cùng anh P nữa. Nay anh P vẫn kiên quyết ly hôn, HĐXX xét thấy tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng anh P chị T đã trầm trọng, kéo dài, không thể hòa giải, căn cứ điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Hồng P và chị Kiều Thị T ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Hồng P và chị Kiều Thị T có hai con chung Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11/9/2004 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 23/12/2007. Hiện nay các cháu khỏe mạnh và đang ở cùng anh P. Xét thấy, chị T không có nơi cư trú ổn định, anh P có nguyện vọng nuôi con và các cháu H, Tuấn A đều xin ở với bố, để đảm bảo việc được chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định HĐXX quyết định giao cho anh P nuôi cả hai con. Anh P không yêu cầu chị T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Sau khi ly hôn, chị T có quyền thăm nom con chung và không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.

[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

[6]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7]. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227, điều 228; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 57; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hồng P.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hồng P và chị Kiều Thị T ly hôn.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hồng P quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11/9/2004 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 23/12/2007.

Chị Kiều Thị T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung do anh P không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.

Về án phí: Anh Nguyễn Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số AA/2018/0002009 ngày 01/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP B;
  • - TAND, VKSND Tỉnh B;
  • - THADS TP B;
  • - UBND phường LL;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa





Nguyễn Thị Hằng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2021/HNGĐ - ST ngày 20/07/2021 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 48/2021/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Hồng P – sinh năm 1982 (Có mặt) Địa chỉ: Số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang 2, phường LL, thành phố B, tỉnh B 2. Bị đơn: Chị Kiều Thị T, sinh năm: 1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: Số nhà 29, ngõ 52, đường Huyền Quang, tổ dân phố Tiền Giang 2, phường LL, Thành phố B, tỉnh B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger