|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH NA Bản án số: 48/2021/HS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH NA
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Đức Hạnh;
- Ông Nguyễn Thị Yến;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ tên: LDD, tên gọi khác, không; sinh ngày: 05 tháng 9 năm 1983, tại xã NG, huyện NĐ, tỉnh NA; nơi cư trú: xóm 2, xã NG, huyện NĐ, tỉnh NA; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: LGN (đã chết) và bà BTL; vợ NTH; con: Có hai con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 7 đến ngày 07 tháng 8 năm 2021 thay thế bằng áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại tòa.
Người bị hại: Chị LTLO, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Xóm 4, xã HC, thành p V, tỉnh NA. (Có đơn xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh NV N, sinh năm: 1996; địa chỉ cư trú: xóm 6, xã HT, huyện HN, tỉnh NA. (Có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ ngày 29/7/2021, LĐ điều khiển xe mô tô đi từ nhà để đưa hồ sơ xuống thành p V xin việc làm. Khi đi đến địa bàn thị trấn HN, huyện HN, D thấy một cửa hàng bán thiết bị giáo dục địa chỉ số 49, đường 542C thuộc địa phận khối 9, thị trấn HN, huyện HN, nên dừng xe vào cửa hàng xem để mua bàn ghế học sinh. Khi vào trong cửa hàng, D gặp chị LTLO là chủ cửa hàng. D hỏi loại sản phẩm cần mua, sau khi đã thống nhất giá sản phẩm là 1.200.000 đồng xong, D nói với chị Oanh là chiều đi về ghé qua để lấy. Sau đó, D đi ra trước cửa hàng, khởi động xe mô tô để tiếp tục đi xuống thành p V thì thấy có một chiếc xe đạp điện đang dựng trước cửa hàng, trong hộc để đồ của xe đạp điện có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng. D nhìn quanh, thấy không có ai nên D đã lấy chiếc điện thoại đó bỏ vào trong túi áo của mình rồi điều khiển xe đi xuống thành p V. D đến cửa hàng sửa chữa điện thoại của anh NV N để hỏi bán chiếc điện thoại vừa lấy trộm. D đồng ý bán chiếc điện thoại nói trên với giá 4.000.000 đồng. Sau đó, D đã sử dụng toàn bộ số tiền bán điện thoại và tiền bán chiếc xe mô tô đang đi để chi tiêu cá nhân.
Sau khi bị mất tài sản, chị LTLO đã đến Công an thị trấn huyện HN trình báo. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, biết không thể che dấu được hành vi phạm tội nên D đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện HN để đầu thú.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HDDGTS ngày 30/7/2021 kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XSmax màu vàng có giá trị tại thời điểm định giá là 8.549.550 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau. Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ để kết luận: Bị cáo LĐ đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax của chị LTLO với tổng giá trị tài sản là 8.549.550 đồng. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục thiệt hại; có bố là thương binh, mẹ được hưởng trợ cấp người khuyết tật. Áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo LĐ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo LĐ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hương |
Bản án số 48/2021/HS-ST ngày 08/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Duy Dương Trộm cắp tài sản
