Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 48/2021/DS-PT
Ngày: 29/12/2021
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân; Bà Lương Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2021/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo đối với bản án số 15/2021/DS-ST ngày 17/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1964;
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B (tên gọi khác Nguyễn Sỹ B), sinh năm 1961;
  • Đều ở địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957 (là anh ông L); Địa chỉ: Tổ x, phường B, thành phố L, tỉnh L.
    2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; Địa chỉ: Tổ x, phường B, thành phố L, tỉnh L.
    3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958 (là chị ông L); Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 (là em ông L); Địa chỉ: Thôn Đa Phú, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    5. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (là em ông L);
    6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969 (là em ông L);
    7. Bà Lê Thị N, sinh năm 1968 (là vợ ông L);
    8. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (là vợ ông Ngợi); Đều ở địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    9. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1954 (là chị ông B); Địa chỉ: Thôn Đại P, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
    10. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949 (là chị ông B);
    11. Ông Nguyễn Tường B, sinh năm 1952 (là anh ông B);
    12. Ông Nguyễn Huy X, sinh năm 1950 (là anh ông B);
    13. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 (là vợ ông B); Đều ở địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    14. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955 (là chị ông B); Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
    15. Ông Nguyễn Văn C (T), không rõ năm sinh, địa chỉ (là em ông B).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn L trình bày: Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn N chết năm 1999 và cụ Nguyễn Thị S chết năm 2013. Hai cụ không có người con riêng hay con nuôi nào mà sinh được 07 con là: Bà T, ông S, bà N, bà N, ông N, bà L và ông. Hai cụ chết không để lại di chúc nên tài sản của bố mẹ ông là một mảnh đất ở thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình có diện tích là 550 m2 thửa số 11, tại tờ bản đồ 299 năm 1986 ghi tên người sử dụng cụ Nguyễn Văn N. Sổ mục kê năm 1991 thửa đất này là thửa số 3100, tờ bản đồ số 4, diện tích là 475 m2 đất ở ghi tên người sử dụng cụ N. Theo đo đạc hiện trạng năm 2007 là thửa số 409, tờ bản đồ số 10, diện tích tích 530,4 m2 mang tên cụ Nguyễn Thị S. Diện tích đất trên có biến động qua các thời kỳ do đâu ông không biết. Hiện nay vợ chồng ông và vợ chồng ông N, bà T đang sử dụng toàn bộ thửa đất...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét về nguồn gốc diện tích đất đang có tranh chấp, mốc giới ranh giới biến động đất qua các thời kỳ thì thấy: Đất của gia đình ông L theo bản đồ 299 năm 1986 thì diện tích là 550m2; năm 1991 là 475 m2 đất ở; năm 2007 diện tích 530,4m2; theo biên bản thẩm định của Tòa án ngày 09/7/2021 là 536,3m2 đều mang tên chủ sử dụng hợp pháp là cụ N và cụ S.

[2] Xét về quá trình sử dụng diện tích đất đang có tranh chấp: Trong quá trình sử dụng từ năm 1986 đến nay gia đình ông L, ông B không mua bán, chuyển nhượng tặng cho ai diện tích đất nào; không có tranh chấp với các hộ liền kề...

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn L. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 15/2021/DS-ST ngày 17/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, một phần kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn L yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn B phải tháo dỡ phần móng của công trình phụ do gia đình ông B xây tính từ bức tường công trình phụ của gia đình ông B để trả cho gia đình ông L diện tích đất chiều dài là 9,36 m x chiều rộng là 0,2 m = 1,87m2.

- Buộc gia đình ông B phải tháo dỡ phần gạch móng âm có chiều dài 0,93m x 0,1m đã xây trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông L để trả lại diện tích đất cho gia đình ông L.

- Ông B có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị bằng tiền cho ông L tương ứng 0,93m2 x 500.000 đ/m2 = 468.000 đồng.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn L yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Nguyễn Văn B phải trả lại cho gia đình ông L diện tích đất 13,7 m2.

Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Tòa án, Chi cục THA huyện H;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Kim Hằng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2021/DS-PT ngày 29/12/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 48/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn L - Nguyễn Văn B tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger