|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 18-11-2020
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thúy Kiên.
- Ông Nguyễn Hoàng Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Diễm X, sinh năm 1998
Địa chỉ: Khu vực T, phường H, quận N, thành phố C. - Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu vực T, phường Tân H, quận N, thành phố C.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 29/4/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Diễm X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do mai mối bà và ông Nguyễn Quốc N tiến đến hôn nhân vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện. Ông bà có tổ chức lễ cưới vào năm 2017 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng, quận Thốt Nốt theo số đăng ký 31 ngày 08/5/2017. Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống, tính tình không còn phù hợp nên thường hay cải vã làm mất hạnh phúc gia đình. Ngoài ra, ông N không chung thủy và không tôn trọng ông bà, cha mẹ vợ. Đến tháng 4/2020, vợ chồng ly thân cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông N nên bà yêu cầu ly hôn.
* Bị đơn ông Nguyễn Quốc N trình bày: Về hôn nhân ông thống nhất giữa ông và bà X tiến đến hôn nhân do mai mối, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn và thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như bà X trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn đúng là ông có nói lớn tiếng với cha mẹ vợ nhưng ông đã xin lỗi, khắc phục, còn việc bà X cho rằng ông ngoại tình là không có. Nay ông nhận thấy còn tình cảm với bà X và mong muốn con có cha mẹ đầy đủ nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông N, bà X thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Song Hiền N (nữ), sinh ngày 07/11/2018. Từ khi ly thân cho đến nay con do bà X nuôi. Trường hợp ly hôn ông N, bà X đều yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên tại phiên tòa ông N đồng ý giao con cho bà X nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 11/2020 trong trường hợp vợ chồng ly hôn.
Về tài sản chung: Bà X xác định không có. Ông N cho rằng có 40 chỉ vàng 24k nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa ông N xác định tài sản chung không có.
Về nợ chung: Ông N, bà X xác định không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Diễm X được ly hôn với ông Nguyễn Quốc N.
- Về con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Song Hiền N (nữ), sinh ngày 07/11/2018. Giao con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của ông N mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 11/2020.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu ly hôn của bà X, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của ông Nguyễn Quốc N và bà Nguyễn Diễm X là tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn, bà X cho rằng ông N không chung thủy, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tình tình không còn phù hợp nên ông bà thường hay cự cãi và ông N không tôn trọng ông bà, cha mẹ của bà. Ông N thừa nhận có lớn tiếng với cha mẹ vợ nhưng ông đã xin lỗi, khắc phục và ông còn thương bà X nên không đồng ý ly hôn nhưng lại không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn gia đình. Tại phiên tòa bà X cương quyết yêu cầu ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, bà không còn tình cảm với ông N, còn ông N vẫn không đưa ra biện pháp nào hàn gắn tình cảm. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà X xác định không còn tình cảm với ông N, ông N lại không đưa ra biện pháp hàn gắn gia đình cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Nguyễn Diễm X được ly hôn với ông Nguyễn Quốc N.
[2] Về con chung: Ông bà có 01 người con chung tên Nguyễn Song Hiền N (nữ), sinh ngày 07/11/2018. Xét từ khi vợ chồng ly thân con do bà X nuôi dưỡng nếu thay đổi người nuôi con có thể ảnh hưởng đến tâm lý của con và ông N cũng đồng ý giao con cho bà X nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn nên Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không yêu cầu ông N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 11/2020, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên ghi nhận.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà X, ông N thống nhất xác định không có.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Diễm X chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định. Ông Nguyễn Quốc N chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên án:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Diễm X và ông Nguyễn Quốc N.
- Về con chung: Ông bà có 01 người con chung tên Nguyễn Song Hiền N (nữ), sinh ngày 07/11/2018. Giao con chung Nguyễn Song Hiền N cho bà Nguyễn Diễm X trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Quốc N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 11/2020 đến khi con đủ 18 tuổi.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho ông N không ai được quyền ngăn cản. Ông N, bà X có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con. - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Diễm X phải chịu tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 012499 ngày 20/10/2020 được chuyển thành án phí.
Ông Nguyễn Quốc N phải chịu tiền án phí cấp dưỡng là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thốt Nốt; - UBND phường Tân Hưng; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Hoàng Thị Kim Hưng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Thúy Kiên Nguyễn Hoàng Liệt | Hoàng Thị Kim Hưng |
Bản án số 48/2020/HNGĐ-ST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 48/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Diễm X và ông Nguyễn Quốc N. 2. Về con chung: Ông bà có 01 người con chung tên Nguyễn Song Hiền N (nữ), sinh ngày 07/11/2018. Giao con chung Nguyễn Song Hiền N cho bà Nguyễn Diễm X trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Quốc N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 11/2020 đến khi con đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho ông N không ai được quyền ngăn cản. Ông N, bà X có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. - Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Diễm X phải chịu tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền số 012499 ngày 20/10/2020 được chuyển thành án phí. Ông Nguyễn Quốc N phải chịu tiền án phí cấp dưỡng là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
