TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ÐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM Ðộc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2019/HS-PT Ngày: 19-6-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ÐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ông Phan Minh Dũng
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2019/TLPT-HS ngày 25-4-2019 đối với bị cáo K’Kh cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo K’Kh, K’Ph; đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 18-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo:
K’Kh, sinh ngày 15-02-2000 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: tổ dân phố Ryông Sre, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 6/12; giới tính: nam; dân tộc: K’Ho; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’Kr sinh năm 1975 và bà K’M sinh năm 1976, hiện đều cư trú tổ dân phố Ryông Sre, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05-10-2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt.
K’Ph, sinh ngày 09-8-1999 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: tổ dân phố Ryông Sre, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 10/12; giới tính: nam; dân tộc: K’Ho; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’P, sinh năm 1977 và bà K’M, sinh năm 1973; hiện đều cư trú tổ dân phố Ryông Sre, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05-10-2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Anh Vũ là Trợ giúp viên pháp
lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước – Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án này, bị hại anh Th, người liên quan anh T không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:
Do có hẹn để bốc xếp cám gà tại trang trại gà ở xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng, nên vào khoảng 09 giờ sáng ngày 12-9-2018, các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph và anh K'Br cùng đi đến trang trại gà và đợi đến 12 giờ không thấy xe chở cám gà đến, nên cùng rủ nhau đi uống rượu tại thị trấn Đ, huyện L.
Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph bàn và cùng thống nhất đi đến trại gà để tìm xe cám đã gọi bốc xếp để xin tiền xăng xe với lý do “đợi cả buổi sáng mà không được bốc vác”. Khi đi đến gần cổng chào tổ dân phố Ryông Sre, thị trấn Đ, bị cáo K'Kh hỏi “giờ có đi ra xin tiền xăng xe” thì bị cáo K'Kh nói “Ừ đi” và cùng đi đến trại gà nhưng không thấy xe chở cám, nên cả hai cùng trở về thị trấn Đ. Khi đến ngã ba đi vào tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đ, bị cáo K'Kh nói với bị cáo K'Ph “đó là xe ô tô chở”. Lúc này bị cáo K'Ph nói với bị cáo K'Kh “về nhà tao lấy dao hù tụi nó” và được bị cáo K'Kh đồng ý; sau đó bị cáo K'Kh vào nhà lấy 01 con dao (dài khoảng 40cm, mũi dao nhọn cán bằng gỗ), còn bị cáo K'Ph cũng chạy về lấy 01 con dao (dài khoảng 30cm mũi dao bằng, bản rộng 6cm).
Sau khi lấy dao, bị cáo K'Ph chở bị cáo K'Kh đến nhà ông Khánh, ông Bính thuộc tổ dân phố Tiên Phong, thị trấn Đ để tìm xe ô tô chở cám xuống cho trại gà. Tại đây, bị cáo K'Kh và bị cáo K'Ph nhìn thấy xe đang được người khác bốc xếp cám xuống cho trại gà, bị cáo K'Ph đe dọa và yêu cầu anh T là phụ xe “xe này chúng tôi đợi từ sáng để bốc, giờ có người khác bốc, cho chúng tôi xin ít”. Bị cáo K'Kh cầm con dao đi đến nơi anh T đang đứng ở đầu xe tải và đe dọa “Đưa cho tụi tôi tiền xăng xe, chúng tôi đợi từ sáng đến giờ, xe đến”. Anh T nói “Tôi không biết”; bị cáo K'Kh lao vào dùng chân đá vào mông anh T rồi tiếp tục yêu cầu và đe dọa anh T đưa tiền xăng xe. Anh T vẫn nói “Tôi không biết” thì bị cáo K'Kh dùng tay bóp cổ anh T và yêu cầu lấy tiền xăng xe. Sau đó, bị cáo K'Kh bỏ anh T ra và yêu cầu anh Th là tài xế lái xe tải đang ngồi trên cabin xuống xe để nói chuyện. Do thấy bị cáo K'Kh trên tay cầm dao nên anh Th yêu cầu cất dao thì mới xuống, bị cáo K'Kh để dao trên yên xe; anh Th xuống xe thì bị cáo K'Kh có lời nói đe dọa và yêu cầu anh Th đưa tiền xăng xe. Anh Th nói “Tôi không biết” thì bị cáo K'Kh tát một cái vào mặt. Lúc đó, anh T đưa điện thoại cho bị cáo K'Kh nói chuyện. Vừa dứt cuộc điện thoại bị cáo K'Kh quay lại yêu cầu và đe dọa anh Th đưa tiền xăng xe. Th tiếp tục trả lời “không biết” thì anh K'Kh lập tức lấy dao trên yên xe chém 01 cái vào tay phải của anh Th và yêu cầu “Tụi mày đưa cho”. Thấy vậy, anh T
lo sợ và đi lên cabin xe ô tô tải lấy 500.000đ (mệnh giá loại 500.000) đưa cho bị cáo K'Kh. Sau khi lấy được tiền thì bị cáo K'Kh nói với bị cáo K'Ph đi về còn anh Th được đưa đi Bệnh viện cấp cứu.
Tang vật thu giữ 01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ; 01 con dao (dài); 01 con dao (dài).
Tại kết luận số 199/2018/TgT ngày 03-12-2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận bị hại anh Hà Đình Th với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14%.
Về trách nhiệm dân sự, bị hại anh Th yêu cầu bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph trả lại số tiền 500.000đ; bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 92.752.504đ.
Tại bản án số 14/2019/HS-ST ngày 18-3-2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã tuyên bố các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ các điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây) đối với các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph. Riêng bị cáo K'Kh được áp dụng thêm điểm b (bồi thường) Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo K'Kh 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-10-
2018;
2018.
Xử phạt bị cáo K'Ph 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-10- Ngoài ra, bản án còn giải quyết về bồi thường, vật chứng, án phí, quyền
kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.
Ngày 22-3-2019 các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm, không thắc mắc khiếu nại bản án sơ thẩm. Về kháng cáo, các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho rằng bị cáo K'Kh còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng chưa được cấp sơ thẩm áp dụng. Bởi lẽ sau khi phạm tội, bị cáo đưa cho mẹ mình số tiền 500.000đ và nói đi thăm bị hại, thể hiện bị cáo “đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét giảm cho mỗi bị cáo 06 tháng tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bột luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ÐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xuất phát từ việc ai đó kêu các bị cáo bốc xếp cám gà nhưng sau khi chờ đến 12 giờ không thấy xe chở cám gà đến, nên cùng rủ nhau đi uống rượu tại thị trấn Đ, huyện L. Sau khi uống rượu xong, đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph bàn và cùng thống nhất sử dụng dao đi tìm xe chở cám để de dọa xin tiền xăng với lý do “đợi cả buổi sáng mà không được”. Do vậy, các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph sử dụng dao thực hiện hành vi cầm dao yêu cầu anh T là phụ xe đưa tiềncho rằng “đợi từ sáng đến giờ, xe đến”. Mặc dù anh T nói không biết ai kêu các bị cáo bốc xếp, nhưng bị cáo K'Kh dùng chân đá vào mông, dùng tay bóp cổ anh T tiếp tục yêu cầu anh T đưa tiền xăng xe. Bị cáo K'Kh tiếp tục yêu cầu anh Th là tài xế lái xe tải đang ngồi trên cabin xuống xe để nói chuyện. Do thấy bị cáo K'Kh trên tay cầm dao, nên anh Th yêu cầu cất dao thì mới xuống, bị cáo K'Kh để dao trên yên xe; anh Th xuống xe thì bị cáo K'Kh yêu cầu anh Th đưa tiền xăng xe. Mặc dù anh Th cũng nói không biết ai kêu các bị cáo bốc xếp nhưng bị cáo K'Kh tát một cái vào mặt, sau đó bị cáo K'Kh lấy dao trên yên xe chém 01 cái vào tay phải của anh Th, yêu cầu “tụi mày đưa cho tao năm xị (năm trăm ngàn đồng)”. Do lo sợ, nên anh T đi lên cabin xe ô tô tải lấy 500.000đ (mệnh giá loại 500.000đ) đưa cho bị cáo K'Kh thì các bị cáo đi về; còn còn anh Th được đưa đi bệnh viện cấp cứu. Cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của của các bị cáo, kết luận giám định thương tích, vật chứng thu giữ, lời khai bị hại, lời khai của người liên quan; đã tuyên bố các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph phạm tội “Cướp tài sản” theo Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo, đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp rất nghiêm trong; xâm hại đến tài sản, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo về, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ngoài ra, các bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết tăng nặng định khung “gây thương tích 14%” quy định điểm c khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015; các bị cáo dùng “phương tiện nguy” quy định điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đánh giá từng hành vi của từng bị cáo thể hiện, bị cáo K'Kh thực hiện hành vi quyết liệt, gây thương tích cho bị hại, nên phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo K'Ph. Do vậy, cấp sơ thẩm áp dụng các Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để phân hóa vai trò đồng phạm và quyết định hình phạt từng đồng phạm là thỏa đáng. Ngoài ra, các bị cáo thanh khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ nên đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với bị cáo K'Kh đã bồi thường thiệt hại, nên cũng đã được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định điểm b khoản 1
Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 là bảo đảm nguyên tắc khi quyết định hình phạt.
Bị cáo K'Kh được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; 01 tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 đê quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhận khung hình phạt là thỏa đáng.
Người bào chữa cho rằng, bị cáo K'Kh đã đưa cho mẹ mình số tiền 500.000đ và nói đi thăm bị hại, thuộc trường hợp “đã ngăn chặn hoặc làm giảm” quy định điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 là không có căn cứ. Bởi lẽ trong trường hợp cụ thể này, tội phạm cấu thành hình thức thực hiện hành vi khách quan nhằm chiếm đoạt tài sản, sau khi phạm tội gây thương tích, không đưa bị hại đi cấp cứu. Do vậy, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.
Đối với bị cáo K'Ph được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; 01 tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo thực hiện vai trò đồng phạm, nên được áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhận khung hình phạt là thỏa đáng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình tài liệu tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph phải chịu án phúc hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ÐỊNH:
Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:
Tuyên bố các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph. Riêng bị cáo K'Kh được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo K'Kh 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-10-2018.
Xử phạt bị cáo K'Ph 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-10-2018.
Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo K'Kh, bị cáo K'Ph phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm;
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ÐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Kim Ðồng |
Bản án số 48/2019/HS-PT của TAND tỉnh Lâm Đồng
- Số bản án: 48/2019/HS-PT
- Quan hệ pháp luật:
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2019
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K'Kh phạm tội "Cướp tài sản"