|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47A/2024/HNGĐ-ST Ngày 21-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Đức Thọ
Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bút
Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 179/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hoàng Y, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam
- Bị đơn: Ông Lê Văn Á, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 nộp ngày 21/6/2024 và bản tự khai của nguyên đơn - bà Võ Thị Hoàng Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Hoàng Y và ông Lê Văn Á kết hôn với nhau vào ngày 06/12/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đ nhân hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn bà Y và ông Á sống hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2013. Tháng 11 năm 2013, ông Á1 tù, sau khi chấp hành xong án tù trở về địa phương, ông Á4 lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, sống thiếu trách nhiệm đối với vợ con, bản thân bà Y có động viên, góp ý nhưng ông Á4 nghe nên bà Y và ông Á2 ly thân từ năm 2015 đến nay. Bà Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà Y được ly hôn với ông Á.
- Về con chung: Có 01 con chung là Lê Bảo Y1sinh ngày 05/4/2013. Ly hôn, do cháu Y1là con gái và đang ở với bà Y từ năm 2015 đến nay nên bà Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y1và không yêu cầu ông Á cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có
* Đối với bị đơn ông Lê Văn Á: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Từ khi thụ lý đến trước thời điểm mở phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, nguyên đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án viết bản khai và tham gia hòa giải.
+Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án để tham gia phiên tòa.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Hoàng Y, xử cho bà Y được ly hôn với ông Lê Văn Á.
+ Về quan hệ con chung: Đối với con chung Lê Bảo Y1sinh ngày 05/4/2013. Ly hôn, do cháu Y1là con gái và đang ở với bà Y từ năm 2015 đến nay nên bà Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu ông Á cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu được quyền nuôi con của bà Y là phù hợp với thực tế và có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con, do nguyên đơn bà Võ Thị Hoàng Y không yêu cầu nên đề nghị không đề cập giải quyết.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đề nghị không xét.
+ Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Tranh chấp ly hôn giữa bà Võ Thị Hoàng Y và ông Lê Văn Á thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tòa án triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Lê Văn Á để tham gia phiên tòa, tuy nhiên ông Lê Văn Á vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Hoàng Y và ông Lê Văn Á kết hôn ngày 06/12/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đ nhân hoàn toàn tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ, quá trình chung sống do có mâu thuẫn không tự giải quyết được nên bà Y làm đơn xin ly hôn với ông Á.
Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện để bà Võ Thị Hoàng Y và ông Lê Văn Á được đoàn tụ cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng ông Á vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày quan điểm hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều đó cho thấy ông Á không có thiện chí níu kéo, hòa giải và mong muốn khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa, bà Y khai nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, ông Á không lo làm ăn, sống thiếu trách nhiệm, không chăm lo gia đình. Bà Y và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Á3 không thay đổi, bà Y và ông Á sống ly thân từ giữa năm 2015 cho đến nay và bà Y cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Á. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Y và ông Á đã đến mức trầm trọng. Vì vậy, cần xử cho bà Y được ly hôn với ông Á là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Có 01 con chung là Lê Bảo Y1sinh ngày 05/4/2013. Ly hôn, bà Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y1và không yêu cầu ông Á cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu Y1là con gái, có bản khai xin ở với mẹ, hơn nữa từ khi bà Võ Thị Hoàng Y và ông Lê Văn Á sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay cháu Lê Bảo Y1 được bà Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến nay nên việc tiếp tục giao cháu Y1 cho bà Y được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con, do nguyên đơn bà Võ Thị Hoàng Y không yêu cầu nên không đề cập giải quyết tại bản án này.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Hoàng Y xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4]. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Võ Thị Hoàng Y phải chịu là 300.000 đồng.
[2.5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Hoàng Y về việc yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Lê Văn Á.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Hoàng Y được ly hôn với ông Lê Văn Á.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Lê Bảo Y1, sinh ngày 05/4/2013 cho bà Võ Thị Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng; ông Lê Văn Á4 phải cấp dưỡng nuôi con.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Võ Thị Hoàng Y phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002154 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Võ Thị Hoàng Y đã nộp đủ án phí.
5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
Bản án số 47A/2024/HNGĐ-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 47A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an so 47A
