|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4793/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6866/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7660/2024/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lưu Thị X, sinh năm: 1999.
HKTT: Thôn I - E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số A Đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Ông Phạm Văn P, sinh năm: 1995
HKTT: Số 33/3/6/1 Đường số 8, Khu phố 1, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Nhà không số kế bên nhà số A Đường số H, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà X xin vắng mặt, ông P vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn - bà Lưu Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị X và ông Phạm Văn P tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 174 ngày 27/10/2017.
Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống tại địa chỉ số C Đường số H, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống hai vợ chồng sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được 02 năm đầu đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc thường xuyên cãi vã nhau và đỉnh điểm là đánh nhau. Nguyên nhân do hai vợ chồng không cùng quan điểm sống và bất đồng về vấn đề kinh tế. Hai vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng ngày một trầm trọng, hiện nay bà X và ông P đã sống ly thân suốt một thời gian dài. Nay bà X xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn tình cảm được với ông P nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà Lưu Thị X và ông P có 02 (hai) con chung tên Phạm Duy K (nam), sinh ngày 21/9/2017 và Phạm Duy A (nam), sinh ngày 08/7/2021. Bà X khai nhận, sau khi vợ chồng ly thân bà X đi ra ngoài ở, hai con chung vẫn ở nhà cùng với ông P. Nay bà đồng ý giao hai con chung Phạm Duy A1 và Phạm Duy K cho ông Phạm Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà X không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn - ông Phạm Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các giấy triệu tập. Tuy nhiên, ông P vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày bằng văn bản gửi đến Tòa, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và cũng không tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn - bà Lưu Thị X có đơn yêu cầu vắng mặt.
Bị đơn - ông Phạm Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của bị đơn.
- - Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lưu Thị X về việc ly hôn với ông Phạm Văn P, giao hai con chung Phạm Duy K (nam), sinh ngày 21/9/2017 và Phạm Duy A (nam), sinh ngày 08/7/2021 cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà X không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Nợ chung: Đương sự khai không có.
Án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lưu Thị X khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn P nên xác định là quan hệ tranh chấp về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Bà Lưu Thị X là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà X.
Ông Phạm Văn P là bị đơn đã được Tòa án xác minh nơi cư trú, theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường L, thành phố T cho biết: “Đương sự Phạm Văn P, sinh năm 1995 không có đăng ký thương trú, tạm trú tại địa chỉ 109/33/20/11 Đường số H, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay thực tế cư trú tại nhà không số kế nhà 109/33/20/11 Đường số H, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông P vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt ông P.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn như sau:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lưu Thị X và ông Phạm Văn P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 174 do Ủy ban nhân dân L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27 tháng 10 năm 2017. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà X và ông P được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Tại phiên tòa hôm nay bà X có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng tại bản tự khai và các biên bản hòa giải, bà X xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa bà X và ông P có nhiều khác biệt trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Hiện nay bà X và ông P đã sống ly thân. Do đó, bà X giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.
Ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa bà X và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không thể chia sẻ cùng nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Mặc dù lời khai của bà X không được đối chất với ông P vì trong suốt quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết đơn ly hôn đến nay ông P không chấp hành giấy triệu tập của Tòa, cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà X. Điều này thể hiện ông P không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân của bà X và ông P tại địa phương, theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T cho biết: Qua xác minh và rà soát hồ sơ liên quan, Ủy ban nhân dân phường L không nhận được đơn cũng như thông tin mâu thuẫn về gia đình của bà Lưu Thị X và ông Phạm Văn P. Vì vậy, theo các nội dung yêu câu của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức gửi UBND phường L không xác định được.
Từ những nhận định trên cho thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của bà X và ông P đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lưu Thị X theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung:
Căn cứ theo Giấy khai sinh số 495 ngày 03 tháng 11 năm 2017 và giấy khai sinh số 268/2021 ngày 05/9/2021 cùng do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp có cơ sở xác định trẻ Phạm Duy K (nam), sinh ngày 21/9/2017 và Phạm Duy A (nam), sinh ngày 08/7/2021 là con chung của bà X, ông P.
Theo lời khai của bà X hai con chung Phạm Duy K và Phạm Duy A đang sinh sống với ông P từ thời điểm bà X và ông P sống ly thân cho tới hiện nay. Để đảm bảo điều kiện phát triển về thể chất, tinh thần cũng như không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của trẻ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao con chung Phạm Duy K (nam), sinh ngày 21/9/2017 và Phạm Duy A (nam), sinh ngày 08/7/2021 cho ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Bà X yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con chung và trong quá trình giải quyết vụ án Toà án không lấy được lời khai của ông P về vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X về việc bà X không cấp dưỡng nuôi con.
[3] Tài sản chung và nợ chung: Bà X khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Ông P không có yêu cầu phản tố về giải quyết chia tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bà X chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ông P không phải chịu án phí.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lưu Thị X:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị X được ly hôn ông Phạm Văn P.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 174 do do Ủy ban nhân dân L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27 tháng 10 năm 2017 không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
1.2. Về con chung: Giao con chung Phạm Duy K (nam), sinh ngày 21/9/2017 và Phạm Duy A (nam), sinh ngày 08/7/2021 cho ông Phạm Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lưu Thị Xuân K1 không cấp dưỡng nuôi con.
Bà X được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con, người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án.
1.4 Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án.
2. Về án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng bà Lưu Thị X phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà X đã nộp theo biên lai thu số 0025126 ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà X đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Lưu Thị X, ông Phạm Văn P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 4793/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 4793/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
