|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 479/2024/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Cao Trí - Ông Lê Trung Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 423/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Hoàng L, sinh năm 1990, địa chỉ: Số nhà G, ấp T, xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Chị Hà Thị Bảo Y, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 21/02/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Hoàng L trình bày:
- Về hôn nhân: Anh L và chị Y tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; tuy nhiên, thời gian dần về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh L yêu cầu giải quyết cho ly hôn với chị Y.
- Về con chung: Anh L và chị Y có 01 con chung tên Ngô Đăng K, sinh ngày 16/9/2018, đang chung sống cùng với chị Y. Anh L đồng ý giao con chung Ngô Đăng K cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không cấp dưỡng cho con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn chị Hà Thị Bảo Y vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đó giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Y. Về con chung, đồng ý giao con chung Ngô Đăng K cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh L ly hôn với chị Y.
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Ngô Đăng K, sinh ngày 16/9/2018 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn anh L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Y vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Anh L và chị Y tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố V, tỉnh Hậu Giang ngày 13/4/2018, nên hôn nhân được pháp luật công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, vợ chồng có bất đồng quan điểm sống nên đã sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ghi nhận ý kiến, tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị Y vắng mặt và anh L vẫn kiên quyết ly hôn; cho đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân và không thể tự hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa, Anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị Y.
[2.2] Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, giữa anh L và chị Y đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh L ly hôn với chị Y theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh L và chị Y có 01 (Một) con chung tên Ngô Đăng K, sinh ngày 16/9/2018, đang chung sống với chị Y. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến nay thì chị Y là người trực tiếp nuôi con, anh L đồng ý giao cháu K cho chị Y nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cho cháu K ổn định về tâm lý, chổ ở, học tập, sinh hoạt và sự phát triển bình thường của cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Y phải tạo điều kiện cho anh L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng: Chị Y không có ý kiến, yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp chị Y yêu cầu cấp dưỡng cho con thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án khác theo quy định pháp luật.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp. Chị Y không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, các điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 9, 19, 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Ngô Hoàng L ly hôn với chị Hà Thị Bảo Y.
-
Về con chung:
-
- Anh L và chị Y có 01 (Một) con chung tên Ngô Đăng K, sinh ngày 16/9/2018, đang chung sống với chị Y. Chị Y được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Đăng K.
-
Chị Y không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
-
- Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
-
-
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005335 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-
Về quyền kháng cáo: Anh L và chị Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Trung Thành Lê Cao Trí |
Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 479/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 479/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
