|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 479/2025/HS-PT
Ngày 02/6/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thảo.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Đình Khánh;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Điệp, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 408/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị Hồng Nhung, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị Hồng Nhung, sinh năm 1992; HKTT: khu phố Đa Hội, phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Dũng (đã chết) và bà Trần Thị Hiền, sinh năm 1973; có chồng là Trần Đức Duy (đã ly hôn) sinh năm 1990 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2014 đến nay, Trần Thị Hồng Nhung sinh năm 1992 là Giám đốc điều hành Công ty TNHH Tuấn Anh, có địa chỉ trụ sở tại khu phố Trịnh Xá, phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, MST: 2300327377, được thành lập năm 2008, ngành nghề kinh doanh là mua bán sắt, thép, kim loại... . Từ tháng 7/2020, do có nhiều người hỏi mua hóa đơn giá trị gia tăng khống (sau đây viết tắt là GTGT), thấy có lợi nhuận nên Nhung đã thực hiện việc bán hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) của Công ty TNHH Tuấn Anh cho khách hàng. Ngoài ra, Nhung còn thành lập 16 công ty khác nhau (Công ty Việt Á, Công ty Tấn Trường Lộc, công ty Gia Hưng, Công ty Đăng Khôi, Công ty Anh Thư, Công ty Thành Lê, Công ty Tấn Hưng, Công ty Minh Quang Phát, Công ty Minh Lộc, Công ty Huy Hùng, Công ty Phát Tâm An, Công ty Thuận Minh Phát, Công ty Tấn Trường Thịnh, Công ty An Phát, Công ty Phát Đạt, Công ty Minh Đăng) đều có địa chỉ trụ sở tại phường Châu Khê, ngành nghề kinh doanh chủ yếu là mua bán sắt, thép, kim loại, mục đích mua bán hóa đơn GTGT khống. Nhung nhờ những người thân trong gia đình đều ở khu phố Đa Hội, phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn đứng tên làm Giám đốc nhưng mọi hoạt động của các công ty này đều do Nhung quản lý, chỉ đạo và điều hành. Khi Nhung nhờ những người thân trong gia đình đứng tên Giám đốc công ty, Nhung không nói cho họ biết mục đích Nhung thành lập công ty để mua bán trái phép hóa đơn.
Từ tháng 7/2020 đến tháng 9/2023, có nhiều khách hàng giới thiệu là nhân viên của các công ty cần mua hóa đơn (không rõ nhân thân, lai lịch) đến trụ sở Công ty TNHH Tuấn Anh gặp Nhung đặt vấn đề mua hóa đơn GTGT khống các mặt hàng về sắt, thép, kim loại... Sau khi trao đổi, Nhung nhất trí bán hóa đơn GTGT khống của 17 công ty trên cho các khách hàng này với giá 1,52% giá trị tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn. Sau khi bán các hóa đơn GTGT khống do 17 công ty trên xuất cho khách hàng, Trần Thị Hồng Nhung đã mua khống hóa đơn GTGT của nhiều công ty xuất ra với giá trung bình 1,5% trên tổng trị giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn để hợp thức hóa các số hóa đơn đã bán khống nhằm thu lợi bất chính tiền chênh lệch (khoảng 0,02%) từ việc bán hóa đơn GTGT khống. Cụ thể như sau:
1. Về hành vi bán trái phép hóa đơn.
Khi khách hàng có nhu cầu mua hóa đơn GTGT khống thì liên hệ với Nhung và tự soạn thảo 02 bộ hồ sơ, tài liệu như: hợp đồng kinh tế, biên bản giao nhận, chứng từ kèm theo đã có chữ ký giám đốc, đóng dấu công ty khách hàng đưa lại cho Nhung hoặc chuyển qua xe khách về địa chỉ do Nhung cung cấp (thường là địa chỉ của Công ty Tuấn Anh). Sau đó, Nhung viết hóa đơn GTGT hoặc lập hóa đơn điện tử GTGT và gửi cho khách hàng qua Zalo hoặc gửi chuyển phát nhanh theo địa chỉ của khách hàng yêu cầu.
Để hợp thức hóa thủ tục thanh toán tiền qua ngân hàng, khách hàng mua hóa đơn GTGT khống dùng tài khoản của công ty sử dụng hóa đơn khống chuyển trả tiền mua hàng vào số tài khoản của các công ty do Nhung xuất hóa đơn khống. Sau đó, Nhung đưa giấy rút tiền mặt của các công ty trên nhờ Trần Thị Huyền, Trần Thị Thủy, Trần Thị Luyến, Phạm Thị Phương, Trần Thị Hương, Trần Công Cầu, Trần Thị Anh, Trần Thị Yến, Trần Thị Thanh Nhàn, Trần Đình Lập, Trần Đình Báu, Trần Đình Trung, Trần Thị Hoài Nhi, Trần Thị Lan, Phạm Văn Công, Nguyễn Thị Bằng đến ngân hàng làm thủ tục rút tiền đưa lại cho Nhung để Nhung trả lại tiền mặt cho khách hàng. Hoặc sau khi nhận được tiền khách hàng chuyển vào tài khoản công ty (17 công ty), Nhung sẽ chuyển khoản số tiền khách hàng vừa chuyển đến tài khoản của Nhung hoặc các tài khoản của Trần Thị Luyến, Trần Đức Duy, Trần Thị Hương, Trần Thị Quyết, Trần Đức Cường, Trần Thị Thư, Phạm Văn Nghiệp, Trần Thị Yến, Trần Đình Trung, Phạm Thị Phương, Trần Thị Thanh Nhàn, Trần Văn Thái, Trần Thị Hương, Nguyễn Thị Diệu Linh (chủ các tài khoản trên đều do Nhung nhờ mở tại các ngân hàng để Nhung trực tiếp quản lý sử dụng). Sau đó, Nhung giữ lại tiền mua bán hóa đơn là 1,52% và chuyển trả tiền còn lại vào tài khoản cá nhân do khách hàng yêu cầu. Việc trả lại tiền cho khách hàng mua hóa đơn như nêu trên giữa Nhung và người mua hóa đơn không có sổ sách hay giấy tờ ghi chép.
Với cách thức như trên, từ tháng 7/2020 đến tháng 09/2023, Trần Thị Hồng Nhung bán tổng cộng 9.502 số hóa đơn GTGT của 17 công ty do Nhung quản lý điều hành xuất cho 940 công ty trong và ngoài tỉnh với tổng giá trị tiền hàng là 4.830.603.403.403 đồng, tiền thuế là 482.008.398.010 đồng, với giá bán trung bình khoảng 1,52%.
2. Về hành vi mua hóa đơn GTGT khống.
Sau khi sử dụng hóa đơn GTGT của 17 công ty do Nhung điều hành bán khống cho khách hàng, Nhung đặt vấn đề mua hóa đơn GTGT khống của người phụ nữ tên Giang ở Bắc Ninh; người đàn ông tên Mạnh tại Thái Bình; người đàn ông tên Linh tại Hải Phòng; người đàn ông tên Tiến tại Bắc Giang (Nhung không rõ thông tin, địa chỉ) và Trần Thị Tươi, sinh năm 1994 trú tại Đa Hội, Châu Khê, Từ Sơn Bắc Ninh với giá trung bình khoảng 1,5% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn nhằm hợp thức hóa số lượng hàng hóa trên các số hóa đơn GTGT của 17 công ty Nhung đã xuất bán khống. Khi cần mua hóa đơn, Nhung cung cấp thông tin như tên công ty, địa chỉ trụ sở, mã số thuế, mặt hàng, khối lượng, giá trị.... Cho Giang, Mạnh, Linh, Tiến và Tươi để những người này hoàn thiện các thủ tục, giấy tờ theo thông tin Nhung cung cấp. Sau đó, Giang, Mạnh, Linh, Tiến và Tươi gửi hóa đơn điện tử qua Zalo cho Nhung. Các giấy tờ còn lại như Hợp đồng, Biên bản giao nhận hàng hóa, phiếu xuất kho,... và giấy rút tiền mặt đã có chữ ký, đóng dấu của giám đốc công ty xuất hóa đơn GTGT khống gửi qua đường chuyển phát nhanh cho Nhung theo địa chỉ Nhung yêu cầu. Để hợp thức hóa việc thanh toán tiền qua ngân hàng đối với các hóa đơn mua khống, Nhung sử dụng tài khoản của 17 công ty do Nhung điều hành chuyển tiền đến tài khoản của các công ty xuất hóa đơn GTGT khống theo thông tin ghi trên hợp đồng, đồng thời chỉ đạo các nhân viên gồm Trần Thị Huyền; Trần Thị Thủy; Trần Thị Luyến; Phạm Văn Công; Phạm Thị Phương; Trần Thị Hương; Trần Công Cầu; Trần Thị Anh; Trần Thị Hồng; Trần Đình Trung; Nguyễn Thị Bằng; Trần Thị Hoài Nhi; Trần Thị Nhàn; Trần Thị Yến; Dương Văn Thương; Trần Thị Thanh Nhàn; Trần Đình Lập; Trần Đình Báu dùng giấy giới thiệu, giấy rút tiền mặt (do người bán hóa đơn trước đó cung cấp) đến ngân hàng rút tiền mặt đưa lại cho Nhung. Việc thanh toán tiền mua khống hóa đơn được Nhung trả trực tiếp cho người bán hóa đơn bằng tiền mặt không có giấy tờ, sổ sách hay chứng từ ghi chép lại. Với cách thức như trên, từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2023, Trần Thị Hồng Nhung đã mua khống mua khống 5.097 số hóa đơn GTGT của 43 công ty với tổng trị giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn là 4.830.048.942.339 đồng, tiền thuế là 482.160.198.096 đồng. Trong đó: - Mua của Trần Thị Tươi, sinh năm 1994 ở khu phố Đa Hội, phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 97 số hóa đơn GTGT do 08 công ty xuất ra với tổng trị giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn là 66.326.940.821 đồng, tiền thuế là 6.632.694.083 đồng.- Mua của người phụ nữ tên Giang ở Bắc Ninh 14 số hóa đơn GTGT do 03 công ty xuất ra với tổng trị giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn là 8.731.502.927 đồng; tiền thuế là 873.150.294 đồng.- Mua của người đàn ông tên Mạnh ở Thái Bình; Linh tại Hải Phòng; Tiến ở Bắc Giang 4.986 số hóa đơn GTGT do 32 công ty xuất ra với tổng trị giá tiền hàng chưa thuế ghi trên hóa đơn là 4.754.990.498.591 đồng, tiền thuế là 474.744.353.719 đồng. Toàn bộ số hóa đơn khống Nhung đã mua bán với các công ty trên đều đã được kê khai khấu trừ thuế và Nhung thu lợi bất chính 974.437.596 đồng. Đến nay, Nhung đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nêu trên. Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật đối với các công ty xuất hóa đơn khống cho Trần Thị Hồng Nhung và những công ty sử dụng hóa đơn khống của Trần Thị Hồng Nhung.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng điểm d, đ khoản 2, khoản 3 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thị Hồng Nhung 38 tháng tù về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/01/2025, bị cáo Trần Thị Hồng Nhung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được chuyển từ hình phạt tù thành hình phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Trần Thị Hồng Nhung vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm, việc Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” như đã tuyên là đúng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được chuyển từ hình phạt tù thành hình phạt tiền với lý do: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú và tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; bản thân bị cáo lần đầu phạm tội, quá trình sinh sống tại địa phương đã tích cực tham gia các phong trào thiện nguyện, ủng hộ địa phương trong đợt phòng chống dịch Covid; hiện nay bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn, hiện một mình nuôi hai con còn nhỏ; bị cáo đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và chứng minh được khả năng tài chính để thi hành hình phạt tiền. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; kháng cáo của bị cáo hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức án 38 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và và xin được chuyển từ hình phạt tù thành hình phạt tiền của bị cáo, thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nhung đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi vụ án được phát hiện bị cáo đã ra đầu thú, nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình thêm các tài liệu thể hiện: Bị cáo được Hôi chữ thập đỏ thị trấn Vĩnh An ghi nhận “Tấm lòng vàng”, trong thời gian covid đã tích cực đóng góp, ủng hộ 30.000.000 đồng cho UBND tỉnh Bắc Ninh để phòng chống dịch Covid-19; đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn: hiện bị cáo đã ly hôn và phải nuôi cả hai con còn nhỏ, bị cáo xuất trình thẻ tiết kiệm với số dư 500.000.000 đồng để chứng minh khả năng tài chính. Do bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới và chứng minh được khả năng tài chính nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo: chuyển hình phạt chính từ hình phạt tù sang hình phạt tiền để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng Nhung đảm bảo hình thức và trong hạn luật định, nên hợp lệ, được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Hồng Nhung đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người liên quan, nhân chứng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 07/2020 đến tháng 09/2023, với vai trò là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của 17 công ty đều có địa chỉ trụ sở tại phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Trần Thị Hồng Nhung đã có hành vi sử dụng khống hóa đơn GTGT (đã ghi đầy đủ nội dung) của 17 công ty trên để bán, sau đó mua hóa đơn GTGT đã ghi đầy đủ nội dung của 43 công ty khác thông qua Trần Thị Tươi, Trần Thị Hồng, Trần Thị Xuân, người phụ nữ tên Giang ở Bắc Ninh; người đàn ông tên Mạnh ở Thái Bình; người đàn ông tên Linh ở Hải Phòng; người đàn ông tên Tiến ở Bắc Giang. Tổng số hóa đơn Nhung đã mua, bán khống là 14.599 số hóa đơn và hưởng lợi bất chính số tiền là 974.437.596 đồng. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Hồng Nhung về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về tài chính, kinh tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bị cáo đã mua bán nhiều hóa đơn GTGT khống để thu lợi bất chính. Do đó, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tiền của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã ra đầu thú và tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 38 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình các tài liệu: Tham gia ủng hộ phong trào thiện nguyện, được Hôi chữ thập đỏ thị trấn Vĩnh An ghi nhận “Tấm lòng vàng”; trong thời gian covid đã tích cực đóng góp cùng địa phương chống dịch, ủng hộ 30.000.000 đồng cho UBND tỉnh Bắc Ninh để phòng chống dịch Covid-19 (có xác nhận của chính quyền địa phương); chính quyền địa phương xác nhận: Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính sách; hoàn cảnh gia đình khó khăn: Bị cáo vừa mới ly hôn và hiện nay một mình phải nuôi cả hai con còn nhỏ; bị cáo đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo xuất trình Thẻ tiết kiệm với số dư 500.000.000 đồng để chứng minh có khả năng tài chính thi hành hình phạt tiền. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đặc biệt bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình phải nuôi hai con nhỏ nên nếu bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc nuôi dạy các con của bị cáo. Đồng thời, bị cáo đã chứng minh được khả năng tài chính để thi hành hình phạt tiền. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Chuyển hình phạt chính từ hình phạt tù sang hình phạt tiền cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa hôm nay.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị Hồng Nhung không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng Nhung. Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 176/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần hình phạt, cụ thể như sau:
-
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Thị Hồng Nhung 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
-
Tạm giữ số tiền 500.000.000 đồng của bị cáo Trần Thị Hồng Nhung hiện đang gửi tại ngân hàng theo Thẻ tiết kiệm số LA 4788669 mang tên Trần Thị Hồng Nhung gửi tại Ngân hàng cổ phần thương mại quân đội (MB bank) chi nhánh Phú Quốc để bảo đảm thi hành án.
-
-
Về án phí: Bị cáo Trần Thị Hồng Nhung không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xác nhận bị cáo Trần Thị Hồng Nhung đã thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0002146 ngày 29/5/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
-
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Thảo |
||
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Trần Xuân Thảo |
Bản án số 479/2025/HS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 479/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự Trần thị Hồng N phạm tội "Mua bán trái phép hóa đơn"
