|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 479/2024/DS-PT Ngày: 27-11-2024 V/v tranh chấp chia thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán:
Bà Trịnh Thị Phúc
Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp chia thừa kế.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14A/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 430/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1961;
- Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964;
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972;
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977;
- Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1991
- Ông Nguyễn Anh Q, sinh năm 1994;
- Ông Tạ Văn L1, sinh năm 1993;
- Ông Nguyễn Anh H2, sinh năm 2003;
- Bà Võ Kim T1, sinh năm 1966;
- Ông Nguyễn Nhật N1, sinh năm 1980;
- Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1981;
- Bà Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn H1 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn H1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp C xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp A xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: 1 Quốc lộ A, KP5, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số F Ấp A, A, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn P.
(Bà H, Luật sư H1, ông P, ông Đ có mặt;
Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Cha bà tên Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1931, chết năm 2021), mẹ bà tên Nguyễn Thị N2 (sinh năm 1934, chết năm 2018). Cha mẹ bà có 7 người con ruột tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị B sinh năm 1957, chết năm 2010. Ngoài ra cha mẹ bà không có con riêng, con nuôi, con ngoài giá thú nào khác.
Khi còn sống, cha mẹ bà có tạo lập tài sản là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An đứng tên ông Nguyễn Văn H4. Bà có phụ cha mẹ bỏ tiền ra để sửa chữa nhà lần 1 với số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), có giấy cam kết của cha bà ngày 13/4/2015. Cùng năm 2015, bà có bỏ tiền ra để sửa nhà lần 2 (xây căn gác) với số tiền là 34.000.000đ (ba mươi bốn triệu đồng) có xác nhận của chị em trong gia đình.
Sau khi cha mẹ bà chết, ông P thường xuyên chửi bới, dùng những lời lẽ thô tục xúc phạm bà. Ngoài ra ông P còn cản trở công việc buôn bán trong khi việc buôn bán của bà diễn ra từ mấy chục năm nay. Đám giỗ cha mẹ, ông P cũng không cho cúng kiến, gây gỗ với chị em trong gia đình. Bà sinh sống với cha mẹ từ nhỏ đến giờ, hiện không có nơi ở nào khác.
Cha mẹ không để lại di chúc, nay bà yêu cầu chia thừa kế di sản của cha mẹ để lại theo quy định pháp luật như sau:
- Yêu cầu các đồng thừa kế hoàn trả cho bà số tiền bà đã bỏ ra để sửa chữa nhà là 54.000.000 đồng.
- Chia cho bà 1 di sản thừa kế có giá trị theo chứng thư thẩm định giá là (1.007.508.000₫ – 54.000.000 đồng): 7 = 136.068.571 đồng.
- Bà yêu cầu nhận căn nhà và quyền sử dụng đất thửa số 102, TBĐ 20, diện tích 45,9m², tọa lạc tại phường B, thành phố T và hoàn giá trị lại cho các đồng thừa kế khác.
- Yêu cầu ông P chuyển ra sinh sống nơi khác sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc cha ông tên Nguyễn Văn H4, sinh năm 1931 chết năm 2021. Mẹ ông tên Nguyễn Thị N2, sinh năm 1934 chết năm 2018. Cha mẹ ông có 7 người con ruột tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T. Ngoài ra cha mẹ ông không có con riêng, con nuôi, con ngoài giá thú nào khác.
Khi còn sống, cha mẹ ông có tạo lập tài sản là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An đứng tên ông Nguyễn Văn H4.
Sau khi cha mẹ ông chết, ông và bà H vẫn tiếp tục cùng quản lý, sử dụng di sản. Ông là người đốt nhang hàng ngày cho cha mẹ. Trong quá trình sống chung, bà H thường xuyên gây tiếng ồn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của ông nên ông có vài lần chửi bà H nhưng vấn đề không nghiêm trọng.
Hiện nay, bà H yêu cầu chia di sản thừa kế ông không đồng ý. Ông là con trai duy nhất trong nhà, ông đã sinh ra và lớn lên cùng với cha mẹ ở căn nhà này nên ông có quyền được tiếp tục sử dụng. Ông xác định đây là tài sản của cha mẹ nên các con ai muốn về sinh sống, sử dụng thì về chứ không đồng ý chia. Vì hiện nay, ông đi bán vé số không có khả năng hoàn giá trị cho các đồng thừa kế còn lại.
Hiện nay, gia đình ông gồm ông, bà T1, ông Q, ông H2 và gia đình bà H gồm bà H, ông Đ là người trực tiếp sinh sống trên nhà và đất này. Gia đình ông và gia đình bà H hiện không có nơi cư trú nào khác. Nên ông yêu cầu không chia tài sản mà để nguyên hiện trạng sử dụng cho đến khi ông chết.
Trong quá trình sinh sống tại đây, ông thừa nhận bà H có bỏ tiền ra sửa chữa nhà và được cha ông xác nhận là 20.000.000đ. Bà H còn bỏ tiền ra để xây căn gác ông không biết số tiền chính xác là bao nhiêu, bà H cho rằng số tiền vật tư 34.000.000đ, ông cũng thống nhất. Tuy nhiên, bà H cất căn gác là để bà H và con bà H sinh sống nên ông không đồng ý hoàn trả.
Ông xác định tài sản này là của cha mẹ ông xây dựng có sẵn. Trong quá trình sinh sống tại đây, ông có sửa chữa cửa sổ và lát gạch nhà vệ sinh. Ông xác định phần sửa chữa không nhiều nên ông không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T trình bày:
Các bà thống nhất với lời trình bày của bà H và ông P, xác định cha các bà tên Nguyễn Văn H4, sinh năm 1931 chết năm 2021. Mẹ bà tên Nguyễn Thị N2, sinh năm 1934 chết năm 2018. Cha mẹ các bà có 7 người con ruột tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T.
Cha mẹ các bà chết có để lại di sản là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Các bà yêu cầu thống nhất chia thừa kế theo quy định của pháp luật, mỗi người được nhận 1/7 giá trị di sản theo chứng thư thẩm định giá. Các bà thống nhất trừ số tiền bà H có bỏ ra đã sửa chữa nhà là 54.000.000₫ trước khi chia thừa kế.
Do ông P khi sinh sống tại nhà này không tạo điều kiện cho chị em trong gia đình về thăm, cúng giỗ cha mẹ nên các bà đồng ý giao quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An cho bà H. Bà H có nghĩa vụ hoàn giá trị di sản lại cho các bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Kim T1 trình bày:
Bà là vợ ông P. Trong thời gian chung sống cũng có đóng góp sửa chữa căn nhà cùng ông P nhưng không đáng kể nên bà không có yêu cầu gì về quyền lợi của mình. Hiện giờ bà cũng còn đang sinh sống trên quyền sử dụng đất này. Bà chỉ yêu cầu không chia tài sản thừa kế, để nguyên hiện trạng cho ông P sinh sống.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải Đ, ông Tạ Văn L1 trình bày:
Ông Nguyễn Hải Đ là con của bà H, ông Tạ Văn L1 là con bà N. Các ông hiện đang sinh sống trên nhà và đất đang tranh chấp. Trong thời gian sinh sống trên đất, không có đóng góp đối với di sản thừa kế nên các ông không có yêu cầu gì.
Hiện nay, ông Nguyễn Hải Đ vẫn còn sinh sống trên đất tranh chấp cùng bà H nên yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất cùng bà H. Ông Tạ Văn L1 đã đi làm và thực tế không còn sinh sống trên đất nên không có yêu cầu gì về quyền lưu trú.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh Q trình bày:
Ông là con của ông P và bà T1. Các ông hiện đang sinh sống trên nhà và đất đang tranh chấp. Trong thời gian sinh sống trên đất, không có đóng góp đối với di sản thừa kế nên ông không có yêu cầu gì.
Hiện nay, ông vẫn còn sinh sống trên đất tranh chấp cùng ông P, bà T1 nên yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất cùng ông P.
Ông Nguyễn Nhật N1, bà Nguyễn Thị Kim H3, bà Nguyễn Thị Thu C trình bày:
Các ông, bà là con bà Nguyễn Thị B sinh năm 1957 chết năm 2010. Bà Nguyễn Thị B có 03 người con là Nguyễn Nhật N1, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Thu C. Hiện nay, bà Nguyễn Thị H và các đồng thừa kế khác yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2, các ông, bà không có ý kiến gì.
Riêng đối với kỷ phần thừa kế mà các ông bà được nhận theo quy định, các ông, bà không nhận mà đề nghị được giao kỷ phần thừa kế này cho bà Nguyễn Thị H được toàn quyền sử dụng, sở hữu và cam kết không có khiếu nại tranh chấp về sau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh H2 không có lời trình bày trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H trình bày bổ sung: bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 đã về cha mẹ ruột của bà Võ Kim T1 sinh sống từ lâu. Hiện bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 không còn sinh sống tại địa chỉ số số 130/38 Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Tại địa chỉ số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An chỉ có bà, ông Nguyễn Văn P và con bà là Nguyễn Hải Đ sinh sống.
Ông Nguyễn Văn P trình bày bổ sung: ông sinh ra và lớn lên tại căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Khi ông lập gia đình, ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 cho ông và vợ ông sống tầng trệt của căn nhà, cha mẹ ông tự nguyện chuyển lên sinh sống trên gác. Như vậy, tuy ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị Như K viết giấy tặng cho nhưng đã tự nguyện cho ông quyền sử dụng đất và căn nhà này nên nay ông không đồng ý chia thừa kế. Tại địa chỉ số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An ngoài bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Hải Đ và ông sinh sống thì bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 cũng thường xuyên lui tới, sinh hoạt tại đây.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14A/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 136, 147, 165, 228, 229, 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Các Điều 649, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T.
- Xác định quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An là di sản của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 để lại.
- Xác định bà Nguyễn Thị H đã bỏ chi phí sửa chữa, cải tạo di sản thừa kế là 54.000.000đ (năm mươi bốn triệu đồng).
- Chia di sản thừa kế như sau:
- Chia cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 120, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và quyền sở hữu căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ hoàn cho ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người là 136.068.571₫ (một trăm ba mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn, năm trăm bảy mươi mốt đồng).
- Ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 được quyền lưu cư tại nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 phải di dời ra khỏi căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 6.803.000đ. Chuyển số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001190 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001189 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001188 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001187 ngày 15/11/2023 thành án phí. Như vậy, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải tiếp tục nộp là 2.830.000đ (hai triệu, tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H phải chịu là 2.142.855đ; ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 1.071.429₫.
Do bà Nguyễn Thị H đã tạm ứng toàn bộ chi phí tố tụng nên ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải nộp số tiền là 1.071.429đ (một triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm hai mươi chín đồng) để hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 18/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn P kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chia di sản thừa kế, để ông sinh sống tại căn nhà này thờ cúng cha mẹ cho đến cuối đời.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày: Căn nhà là di sản của cha mẹ chết để lại, bà và ông P không có gia đình sinh sống với nhau tại căn nhà này. Tuy nhiên, ông P thường xuyên kiếm chuyện gây sự không cho bà làm ăn buôn bán. Bà đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Trường hợp ông P không kiếm chuyện với bà thì bà vẫn để ông P sinh sống tại căn nhà này.
Ông Nguyễn Văn P trình bày: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chia di sản thừa kế, để ông sinh sống tại căn nhà này thờ cúng cha mẹ.
Ông Nguyễn Hải Đ trình bày: Ông là con ruột của bà H. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Văn H1 trình bày bài bảo vệ có nội dung như sau: Bà Nguyễn Thị H sinh ra và lớn lên tại nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Trong quá trình sinh sống, bà Nguyễn Thị H đã đóng góp công sức để sửa chữa, cải tạo lại căn nhà với số tiền bỏ ra là 54.000.000đ. Bà H cũng là người chăm sóc, thuốc thang cho ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 khi tuổi già. Ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 chết không để lại di chúc nên bà H yêu cầu được chia 1/7 di sản thừa kế là nhà và đất tại số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An là phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với số tiền bà H bỏ ra để sửa chữa nhà cũng được các bên thừa nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bà H được nhận lại.
Ông P thường xuyên kiếm chuyện, chửi bới bà Nguyễn Thị H và chị em trong gia đình làm ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của các bên. Vào ngày giỗ của cha mẹ, ông P còn không cho cúng giỗ mà bắt đem đồ cúng ra sân để. Theo nguyện vọng của tất cả chị em để bà H quản lý, sử dụng nhà và đất này để chị em có nơi để về giỗ quải, thờ cúng cha mẹ là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông P, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Văn P đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P về yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ vụ án tuyên cho ông được tiếp tục sống trong căn nhà do cha mẹ ông để lại.
Căn cứ sự thừa nhận của các đương sự ông Nguyễn Văn H4 (chết 2021) và bà Nguyễn Thị N2 (chết 2018) để lại di sản là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, giấy chứng nhận đứng tên ông Nguyễn Văn H4.
Ông P cho rằng ông là con trai khi lập gia đình cho rằng ông H4, bà N2 cho ông tài sản trên nhưng không được các chị em ông P thừa nhận và ông P không cung cấp chứng minh có việc tặng cho tài sản trên cho ông.
Do ông H4, bà N2 chết không để lại di chúc, nên bà H, bà L, bà N, bà T, bà X yêu cầu chia thừa kế đối với di sản trên là có căn cứ.
Bà H và ông P đều sinh sống thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà trên đất số 130/38, Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An từ nhỏ đến bây giờ. Sau khi ông H4, bà N2 chết thì giữa ông P, bà H phát sinh mâu thuẫn, được bà L, bà X, bà N, bà T có lời khai thống nhất việc ông P có thái độ chửi bới, không cho chị em trong gia đình về cúng giỗ ông bà, cản trở công việc mua bán của bà H.
Ông P xác định không có điều kiện kinh tế để hoàn giá trị lại cho các đồng thừa kế khác, yêu cầu các đồng thừa kế tiếp tục quản lý, sử dụng chung di sản thừa kế vì ngoài nơi ở này thì ông P không còn nơi ở nào khác.
Thu nhập chính: Ông P thì bán vé số dạo, còn bà H bán cơm tấm trước cửa nhà tại số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Những người thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị B gồm chồng và các con bà B là ông Q1, ông N1, bà H3, bà C từ chối nhận di sản, đồng ý giao kỷ phần mà bà B được hưởng cho bà H được hưởng, đồng thời bà L, bà X, bà N, bà T cũng đồng ý nhận kỷ phần là giá trị, thống nhất giao giao nhà và đất tại số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An cho bà H tiếp tục quản lý để các chị em bà có chỗ để về dịp cúng giỗ ông bà.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của ông P đề nghị được tiếp tục sống trong căn nhà do cha mẹ để lại là không có cơ sở.
Nhận thấy tại đơn khởi kiện của bà H và đơn yêu cầu độc lập của bà L, bà X, bà N, bà T yêu cầu chia thừa kế nhà và đất tại thửa 102, Tòa án cấp sơ thẩm có thông báo thụ lý vụ án là thửa 120, đồng thời Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBND thành phố T cấp cho ông Nguyễn Văn H4 ngày 07/7/20224 cũng thể hiện thửa đất 102. Bản án sơ thẩm nhận định giải quyết là thửa đất 120 và tuyên án giao quyền sử dụng đất thửa 120, tờ bản đồ 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A, Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An là chưa chính xác về số thửa đất.
Từ phân tích trên, Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P, căn cứ khoản 2, Điều 308 BLTTDS, sửa Bản án sơ thẩm về cách tuyên từ thửa đất số 120 thành thửa đất số 102.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn P thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T, ông Tạ Văn L1, ông Nguyễn Nhật N1, bà Nguyễn Thị Kim H3, bà Nguyễn Thị Thu C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P chia di sản thừa kế.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn P kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
- [4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn P, thấy rằng:
- [4.1] Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu hoàn trả chi phí sửa chữa nhà 54.000.000 đồng khi chia di sản thừa kế:
Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T trình bày thống nhất: Vào năm 2015, bà Nguyễn Thị H đứng ra sửa chữa căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An với chi phí là 20.000.000 đồng. Lời trình này của các đương sự phù hợp với “Giấy cam kết” ngày 13/04/2015 của ông Nguyễn Văn H4 có xác nhận chữ ký của Ủy ban nhân dân Phường B1, thành phố T, tỉnh Long An nên có cơ sở chấp nhận.
Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T trình bày thống nhất cùng năm 2015, bà Nguyễn Thị H có bỏ tiền ra xây dựng căn gác của căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An với chi phí là 34.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn P thừa nhận việc bà Nguyễn Thị H bỏ tiền ra xây dựng căn gác nhưng không biết chính xác số tiền là bao nhiêu, bà Nguyễn Thị H cho rằng số tiền xây căn gác là 34.000.000 đồng thì ông Nguyễn Văn P cũng đồng ý.
Theo chứng thư thẩm định giá số 498/06/11/2023/TĐG LA-BĐS ngày 06/11/2023 của Công ty cổ phần T2 giá trị của gác lửng là 46.000.227 đồng nên các đương sự tự thống nhất chi phí bà Nguyễn Thị H xây dựng căn gác là 34.000.000 đồng là phù hợp với giá trị thực tế nên ghi nhận.
Bà Nguyễn Thị H đã trả chi phí cải tạo, sửa chữa làm tăng giá trị cho di sản thừa kế nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trả lại chi phí 54.000.000 đồng khi chia thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
- [4.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu chia thừa kế mỗi người được chia 1/7 giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- [4.2.1] Xác định di sản thừa kế:
Các đương sự trình bày thống nhất nên có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1931, chết năm 2021) và bà Nguyễn Thị N2 (sinh năm 1934, chết năm 2018) có 07 người con ruột tên Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T. Khi chết, ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 để lại di sản là quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, giấy chứng nhận đứng tên ông Nguyễn Văn H4.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn P cho rằng khi ông lập gia đình thì ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 tự nguyện cho ông tài sản này. Các đồng thừa kế khác không thừa nhận sự việc tặng cho nêu trên. Ông Nguyễn Văn P không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên lời trình bày này của ông Nguyễn Văn P là không có cơ sở.
Thực tế cho thấy, ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 chết không để lại di chúc, các đồng thừa kế chưa thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Như vậy, bà Nguyễn Thị H yêu cầu chia thừa kế đối với di sản nêu trên là có căn cứ.
- [4.2.2] Xác định hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2:
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 gồm 07 người gồm:
- Bà Nguyễn Thị B,
- Bà Nguyễn Thị H,
- Ông Nguyễn Văn P,
- Bà Nguyễn Thị L,
- Bà Nguyễn Thị X,
- Bà Nguyễn Thị N,
- Bà Nguyễn Thị T.
Do bà Nguyễn Thị B chết trước ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 nên các con của bà Nguyễn Thị B gồm ông Nguyễn Nhật N1, bà Nguyễn Thị Kim H3, bà Nguyễn Thị Thu C là thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị B. Như vậy, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T yêu cầu mỗi người được chia 1/7 giá trị di sản thừa kế là có căn cứ nên chấp nhận.
- [4.2.3] Đối với kỷ phần thừa kế của bà Nguyễn Thị B do những người thừa kế thế vị là ông Nguyễn Nhật N1, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Thu C nhận. Tuy nhiên, ông Nguyễn Nhật N1, Nguyễn Thị Kim H3, Nguyễn Thị Thu C yêu cầu được giao kỷ phần của các ông, bà cho bà Nguyễn Thị H sử dụng, sở hữu. Xét đây là sự tự nguyện định đoạt quyền về tài sản của các ông, bà nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4.2.4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, thấy rằng:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn P đều sinh sống tại căn nhà cất trên thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² tọa lạc tại Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An từ nhỏ đến bây giờ. Tuy nhiên, sau khi ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 chết thì giữa ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị H đều khai thống nhất việc ông Nguyễn Văn P có thái độ chửi bới, không cho chị em trong gia đình về cúng giỗ ông bà, cản trở công việc mua bán của bà H. Tuy ông Nguyễn Văn P không thừa nhận nhưng cũng có cơ sở xác định ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H có mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày nên không thể cùng sống, quản lý, sử dụng tài sản chung với nhau được.
Ông Nguyễn Văn P xác định ông không có điều kiện kinh tế để hoàn giá trị lại cho các đồng thừa kế khác. Ông yêu cầu các đồng thừa kế tiếp tục quản lý, sử dụng chung di sản thừa kế. Nguồn thu nhập chính của ông Nguyễn Văn P là bán vé số dạo. Nguồn thu nhập chính của bà Nguyễn Thị H là bán cơm tấm tại nhà 130/38 Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Như vậy, để đảm bảo việc nguồn thu nhập ổn định cho bà Nguyễn Thị H và quyền lợi về tài sản của các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T nên giao quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thị H được quản lý, sử dụng, sở hữu. Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ hoàn giá trị lại cho các đồng thừa kế khác là phù hợp.
- [4.2.5] Theo chứng thư thẩm định giá số 498/06/11/2023/TĐG LA-BĐS ngày 06/11/2023 của Công ty cổ phần T2 thì giá trị quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An là 1.006.480.000đ.
Như vậy giá trị di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 để lại là 1.006.480.000₫ – 54.000.000đ = 952.480.000đ.
Ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người được hưởng 1/7 giá trị di sản thừa kế là: 952.480.000₫ : 7 = 136.068.571₫.
Bà Nguyễn Thị H được hưởng 2/7 giá trị di sản thừa kế là: 136.068.571đ x 2 = 272.137.142₫.
Bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và quyền sở hữu căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An nên bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người số tiền 136.068.571đ.
- [4.2.6] Theo sổ hộ khẩu bà Nguyễn Thị H cung cấp thì những người đăng ký thường trú tại số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An gồm bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Hải Đ, ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2, bà Nguyễn Thị N, ông Tạ Văn L1.
Bà Nguyễn Thị H được giao quyền sử dụng quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và quyền sở hữu căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự sinh sống trên di sản thừa kế mà phải di dời có thời gian chuẩn bị chỗ ở mới, ổn định cuộc sống là điều thực sự cần thiết. Hội đồng xét xử xem xét quyền lưu cư cho họ như sau:
Bà Nguyễn Thị N và ông Tạ Văn L1 xác định không còn thực tế sinh sống tại địa chỉ trên nên không xem xét về quyền lưu cư của họ.
Ông Nguyễn Văn P là người trực tiếp sinh sống trên đất. Bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 có đăng ký thường trú và có thường xuyên lui tới, sinh hoạt nên cho ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 được lưu cư tại nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An trong thời hạn 06 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- [5] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu của bà H chia thừa kế là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn P là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Tuy nhiên, đối với di sản thừa kế là thửa 102 nhưng bản án sơ thẩm tuyên thửa đất 120 là không chính xác, nên sửa lại để đảm bảo việc thi hành án.
- [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [7] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng:
- - Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 6.803.000đ. Chuyển số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001190 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001189 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001188 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001187 ngày 15/11/2023 thành án phí. Như vậy, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải tiếp tục nộp là 2.830.000đ.
- - Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá là 7.500.000đ.
Căn cứ vào Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị H phải chịu là 2.142.855đ; ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 1.071.429đ.
Do bà Nguyễn Thị H đã tạm nộp toàn bộ chi phí tố tụng nên ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải nộp số tiền là 1.071.429đ để hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H.
- - Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn P không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên ông P là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T.
- Xác định quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An là di sản của ông Nguyễn Văn H4 và bà Nguyễn Thị N2 để lại.
- Xác định bà Nguyễn Thị H đã bỏ chi phí sửa chữa, cải tạo di sản thừa kế là 54.000.000đ (năm mươi bốn triệu đồng).
- Chia di sản thừa kế như sau:
- Chia cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 102, tờ bản đồ số 20, diện tích 45,9m² và quyền sở hữu căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ hoàn cho ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người là 136.068.571₫ (một trăm ba mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn, năm trăm bảy mươi mốt đồng).
- Ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 được quyền lưu cư tại nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Sau 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn P, bà Võ Kim T1, ông Nguyễn Anh Q, ông Nguyễn Anh H2 phải di dời ra khỏi căn nhà số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H phải chịu là 2.142.855 đồng; ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 1.071.429 đồng.
Do bà Nguyễn Thị H đã tạm ứng toàn bộ chi phí tố tụng nên ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải nộp số tiền là 1.071.429 đồng (một triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm hai mươi chín đồng) để hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.
Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu là 6.803.000 đồng. Chuyển số tiền 3.973.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001190 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001189 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001188 ngày 15/11/2023; số tiền 3.973.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001187 ngày 15/11/2023 thành án phí. Như vậy, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải tiếp tục nộp là 2.830.000 đồng (hai triệu, tám trăm ba mươi nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Văn P án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- - TANDCC tại Tp.HCM;
- - VKSND tỉnh Long An;
- - TAND thành phố Tân An;
- - Chi cục THADS thành phố Tân An;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ, án văn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn P.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 14A/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 136, 147, 165, 228, 229, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 649, 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 479/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 479/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia thừa kế
