Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 479/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng
  2. Ông Nguyễn Cửu Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 416/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 576/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1/ Vũ Thị H, sinh năm: 1995, tại Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Số B đường T, Khu phố I, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Xuân T, sinh năm 1953 và bà Ngô Thị H1, sinh năm 1964; Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 04 anh chị em, trong đó có Vũ Thị T1 là bị cáo trong vụ án này; Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn G, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến ngày 01/02/2024 thì thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

2/ Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 2004, tại Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: 9 N, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Văn T2, sinh năm 1978 và bà Đào Thị K, sinh năm 1981; Bị cáo là con út trong gia đình có 2 chị em; Bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

3/ Vũ Thị T1, sinh năm: 1985, tại Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (nơi ở hiện nay): Thôn A, xã Đ, huyện Đ' Lấp, tỉnh Đăk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Xuân T, sinh năm 1953 và bà Ngô Thị H1, sinh năm 1964; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 anh chị em, trong đó có Vũ Thị H là bị cáo trong vụ án này; Bị cáo có chồng là Hoàng Quốc K1, sinh năm 1979 và 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

4/ Phạm Thị B, sinh năm: 1963, tại An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: Nhà không số, kế nhà số B, đường T, Khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn T3 (đã chết) và bà Phạm Thị T4, sinh năm 1939; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 06 anh chị em; có chồng là Nguyễn Viết H2, sinh năm 1964 và 03 người con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 16/9/2023, Đ Công an thành phố T kiểm tra nhà số C Đường số D, Khu phố F, phường H, thành phố T phát hiện Vũ Thị H đang ghi số đề đài Thành phố Hồ Chí Minh cho Lê Công V, số 78 bao lô mỗi lô 40.000 đồng, đầu đuôi số 78: 20.000 đồng, số 178 bao lô mỗi lô 10.000 đồng, đánh xỉu chủ số 178, mỗi lô 20.000 đồng. Tổng số tiền trên phơi đề là 970.000 đồng, H chiết khấu cho V còn lại 776.000 đồng. V đã đưa cho H 700.000 đồng, chuẩn bị đưa 76.000 đồng thì bị phát hiện. Phơi đề của V còn trong tập giấy ghi số đề của H. Tại thời điểm bị phát hiện còn có những người khác mua số đề gồm: Hồ Thị Diệu mua số 44 đánh đầu đuôi mỗi lô 20.000 đồng; mua số 06 đánh đầu đuôi, tiền cược là 30.000 đồng; bao lô số 06, mỗi lô 15.000 đồng, tổng tiền 740.000 đồng; Trương Thị Hoàng O mua 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh và Long An, số D, 15 đá mỗi lô của 02 đài 1.000 đồng, con số 715 đầu đuôi 10.000 đồng, con số 715 bao lô, mỗi lô là 2.000 đồng, số 15 và 49 đầu 30.000 đồng và đuôi 10.000 đồng, tổng tiền 344.000 đồng. Thống kê phơi đề ngày 16/9/2023 do H trực tiếp ghi được là 5.269.000 đồng. Cơ quan Điều tra đưa H về trụ sở Công an phường H điều tra làm rõ.

Lúc 16 giờ 15 phút ngày 16/9/2023, Đ Công an thành phố T kiểm tra nhà số G đường số D, khu phố F, phường H, thành phố T phát hiện Lê Văn T5 có hành vi bán số đề cho Nguyễn Hoàng D1 trên kết quả xổ số 02 đài Thành phố Hồ Chí Minh và Long An. H3 mua số 793 bao lô 2 đài, mỗi lô 1.000 đồng, mua con số 793 đầu đuôi 2 đài, tiền cược là 15.000 đồng, mua số 93 bao lô 2 đài, mỗi lô 5.000 đồng, tổng tiền mua số đề là 274.000 đồng. Thống kê phơi đề của T5 ghi ngày 16/9/2023 là 3.983.000 đồng (tiền thực tế thu giữ dùng ghi số đề là 2.964.000 đồng). T5 khai ghi số đề giúp cho H.

Mở rộng điều tra xác định Hợi ghi số đề trực tiếp tại nhà số C đường số D, khu phố F, phường H, thành phố T. Khi có khách đến mua số đề thì H ghi số đề ra tờ giấy có 02 liên, khi khách đưa tiền thì H xé 01 liên đưa cho khách, H giữ lại 01 liên để đối chiếu thắng, thua. Cách thức tính tiền chơi cược số đề là nếu 02 số thì lấy số điểm lô (tiền cược) nhân với 18 lô, nếu 03 số thì lấy số điểm lô (tiền cược) nhân với 17 lô, đá thẳng hai con thì lấy số điểm lô (tiền cược) nhân với số cặp lô nhân với hai, đá xiên 02 con hai đài thì nhân với số cặp lô (18 lô) nhân với hai của hai đài, đá vòng thì lấy số lần lặp lại của cặp số nhân với số điểm lô nhân với số lô trong một đài, nếu hai đài thì nhân thêm hai. Hợi thu tiền thực tế khi khách trả là 80% trên số tiền trên phơi (trừ 20% hoa hồng cho khách đến mua số đề).

Khi có người mua số đề với số tiền ít hơn 30.000 đồng thì H sẽ giữ lại trực tiếp trả tiền thắng, thua. Khi có người mua số đề với số tiền trên 30.000 đồng 01 số thì H sẽ chuyển cho người phụ nữ tên T5 (tên lưu trên T6 là Spo S, chưa xác định lai lịch) để T5 trích lại 07% tiền trên tổng phơi đề cho H. T5 sẽ đến nhà của H lấy phơi đề và chung chi tiền thắng, thua. Hiện nay H không biết T5 ở đâu.

Phụ giúp Hợi ghi số đề còn có Lê Văn T5, Lê Thị Mỹ D, Nguyễn Thị S1, Vũ Thị T1 (chị gái của H), Nguyễn Hữu V1, Nguyễn Thị P, Nguyễn Văn B1. Những người này sau khi ghi phơi đề đến khoảng 16 giờ 15 phút hàng ngày sẽ chốt sổ không ghi nữa, chuyển đến cho H thông qua ứng dụng điện thoại Telegram trước giờ xổ số. Sau khi có kết quả xổ số thì H sẽ tính toán thắng, thua và đưa tiền để những người trên trả cho người mua số đề nếu có số trúng. Hợi trích 07% trên tổng phơi đề cho những người ghi số đề. Ngoài ra Hợi trả mức 75 lần khi khách trúng đề 02 con số thì những người này trả lại cho khách mức 74 lần, H trả mức 650 lần khi khách trúng đề 03 con số thì những người này trả cho khách mức 640 lần. Cụ thể:

1/Lê Văn Thủy phụ giúp Hợi ghi số đề để được H trả công. Do T5 mới ghi giúp số đề cho H được từ khoảng 10 ngày nên H trả thêm tiền công cho T5 300.000 đồng/01 ngày. Ngày 16/9/2023, T5 ghi được tổng phơi đề với số tiền 3.983.000 đồng của các đài Thành phố Hồ Chí Minh và Long An. T5 chuyển phơi đề cho H qua ứng dụng Telegram tên “Minh M”.

2/Lê Thị Mỹ Duyên ghi giúp số đề cho H để được H trả tiền công. Ngày 16/9/2023 D ghi được tổng số tiền trên phơi đề là 6.762.000 đồng của các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An và Hậu Giang và đã chuyển cho H thông qua ứng dụng Telergam tên “Duyên Lê”. D khai trong phơi đề ghi được ngày 16/9/2023 thì có 04 khách trúng phơi đề nhưng không biết họ là ai, ở đâu. Do H bị bắt trước khi có kết quả xổ số nên D không nhận được thông tin phản hồi từ H. Tiến hành cho H và D đối chất, cả 02 thừa nhận hành vi nêu trên.

Địa điểm D ngồi ghi số đề cho khách là tại quán bún cá C ven đường T, khu phố H, phường H, thành phố T do Phạm Thị B bán bún cá. D thỏa thuận với B là trả tiền cho Ba 2.000.000 đồng/01 tháng để D ngồi tại bàn ăn thứ 2 bên trái của quán để ghi số đề thì B đồng ý. Tháng 9/2023, D đã trả tiền thuê chỗ ngồi cho Ba 2.000.000 đồng. Tiến hành cho B và D đối chất, cả 02 thừa nhận nội dung trên.

3/Vũ Thị Thúy là chị gái của H. Đầu tháng 9/2023, H đến chơi nhà của T1 và để quên điện thoại tại nhà của T1. Do điện thoại này H dùng ghi số đề nên H nhờ T1 mở điện thoại nhận và chuyển giúp tin nhắn của khách ghi số đề cho H qua ứng dụng Telegram tên “Thúy Thúy”. T1 chuyển giúp cho H các phơi đề khách mua, không hưởng lợi từ việc ghi số đề của H. Ngoài ra, T1 còn cho H mượn số tài khoản ngân hàng B2 của T1, số tài khoản 6351006345 để H nhận và chuyển tiền đánh bạc với các con bạc. Ngày 16/9/2023, kiểm tra 07 tin nhắn của H thì T1 chuyển phơi đề cho H với tổng số tiền trên phơi là 7.114.000 đồng. Cho T1 kiểm tra các nội dung tin nhắn, T1 xác nhận các tin nhắn trên là đúng. Tối ngày 16/9/2023, sau khi hay tin H bị bắt, T1 đón xe đến Thành phố Hồ Chí Minh và đã làm rơi điện thoại trên.

4/ Nguyễn Thị S1: Phụ giúp Hợi ghi số đề để H trả tiền công. Ngày 16/9/2023, S1 chuyển phơi đề cho H qua ứng dụng Telegram tên “Bà S1” với tổng số tiền 3.879.000 đồng của các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước, Hậu Giang. S1 khai trong phơi đề S1 chuyển cho H có 02 số trúng nhưng S1 không nhớ rõ đã trả tiền trúng cho khách hay chưa, người trúng số đề là ai, ở đâu S1 cũng không biết.

5/Nguyễn Hữu Văn phụ giúp Hợi ghi số đề để được H trả tiền công. Ngày 16/9/2024, V1 chuyển phơi đề cho H qua ứng dụng Telegram tên “Văn Veo” với số tiền 2.103.000 đồng của các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước.

6/ Nguyễn Thị P phụ giúp Hợi ghi số đề để được H trả tiền công. Ngày 16/9/2023, P chuyển phơi đề cho H qua ứng dụng Telegram với số tiền 2.996.000 đồng của các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước. P khai phơi đề chuyển cho H có 03 số trúng nhưng không biết người trúng là ai, ở đâu.

7/ Nguyễn Văn B1 : Hiện nay chưa làm việc được với B1 nhưng kiểm tra tin nhắn trong điện thoại của H có tin nhắn qua ứng dụng Telegram chuyển đến có tên “Biên S2” chuyển phơi đề với số tiền 732.000 đồng trong ngày 16/9/2023. Hiện nay Cơ quan điều chưa xác minh được nhân thân của B1, khi xác định được sẽ xử lý sau.

Vật chứng và đồ vật tài liệu thu giữ:

  • - 43 tờ phơi đề, 01 quyển tập học sinh, 02 xấp giấy dùng ghi phơi đề.
  • - Thu giữ của H: 4.620.000 đồng tiền ghi số đề, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy S22 Ultra, 01 máy tính hiệu Casio.
  • - Thu giữ của T5 3.970.000 đồng tiền ghi số đề, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 máy tính hiệu Deli.
  • -Thu giữ của Lê Thị Mỹ D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.
  • - Số tiền 8.991.000 đồng do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nộp khắc phục hậu quả, cụ thể: Lê Văn T5: 13.000 đồng, Nguyễn Thị S1: 3.879.000 đồng, Nguyễn Hữu V1: 2.103.000 đồng, Nguyễn Thị P: 2.996.000 đồng.

Cáo trạng số: 169/CT-VKSTPTĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến ngày 01/02/2024; Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ D từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án; Xử phạt bị cáo Vũ Thị T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị B từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi thời gian phạt tù;

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm có cơ hội tái hòa nhập, trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vào ngày 16/9/2023, Vũ Thị H có hành vi ghi số đề tại nhà số C, Đường số D, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 5.269.000 đồng thì bị phát hiện, do H thuê người ghi số đề cho mình bằng hình thức trả công hoặc hoa hồng nên tổng số tiền làm căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự của Vũ Thị H là 32.856.000 đồng. Số tiền làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự của Lê Thị Mỹ D là 6.762.000 đồng; Phạm Thị B có hành vi giúp sức và cho D thuê địa điểm để ngồi ghi số đề với số tiền hưởng lợi là 2.000.000 đồng; Vũ Thị T1 có hành vi chuyển giúp số đề cho H với số tiền 7.114.000 đồng, cho H mượn số tài khoản để H chuyển tiền thắng thua cho khách mua số đề.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng lười lao động, muốn có tiền nhanh để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện hành vi ghi ô số đề ăn thua bằng tiền với tổng số tiền bán số đề là 32.856.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

- Tổng số tiền làm căn cứ xử lý bị cáo H là 32.856.000 đồng, bị cáo D là 6.762.000 đồng, bị cáo T1 là 7.114.000 đồng, bị cáo B có hành vi giúp sức cho D thuê địa điểm để ngồi ghi số đề với số tiền hưởng lợi là 2.000.000 đồng; nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Riêng bị cáo Phạm Thị B thuộc trường hợp người cao tuổi, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn: Chồng bị cáo bị tai biến liệt nửa người (tỷ lệ tổn thương cơ thể là 89% theo biên bản giám định y khoa của Hội đồng giám định Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh), con trai bị khuyết tật vận động, (theo giấy xác nhận khuyết tật do Ủy ban nhân dân phường H cấp ngày 31/12/2020), bị tai nạn khuyết hộp sọ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.590.000 đồng đã thu từ việc đánh bạc cụ thể: thu của Lê Văn T5 3.970.000 đồng, thu của Vũ Thị H 4.620.000 đồng.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.991.000 đồng do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nộp khắc phục hậu quả, gồm Lê Văn T5: 13.000 đồng, Nguyễn Thị S1: 3.879.000 đồng, Nguyễn Hữu V1: 2.103.000 đồng, Nguyễn Thị P: 2.996.000 đồng.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy S22 Ultra, 01 máy tính hiệu Casio, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 máy tính hiệu Deli, 1 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy A03, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax. Xét đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 43 tờ phơi đề, 01 quyển tập học sinh, 02 xấp giấy dùng ghi phơi đề là tang vật của vụ án, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về xử lý tiền liên quan đến việc phạm tội:

Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền liên quan đến việc đánh bạc để tịch thu nộp ngân sách nhà nước, cụ thể:

  • Buộc bị cáo H phải nộp lại tổng số tiền đánh bạc là: 12.383.000 đồng (bao gồm 5.269.000 đồng tiền bị cáo trực tiếp ghi và 7.114.000 đồng tiền phơi nhận từ bị cáo T1 chuyển qua điện thoại), được trừ vào số tiền đã thu của bị cáo là 4.620.000 đồng nên bị cáo H còn phải nộp số tiền là 7.763.000 đồng.
  • Buộc bị cáo D nộp lại số tiền 6.762.000 đồng;
  • Buộc bị cáo B nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000 đồng.

[8] Đối với các đối tượng Lê Công V, Nguyễn H3, Trương Thị Hoàng O, Nguyễn Thị P, Nguyễn Hữu V1, Nguyễn Thị S1, Hồ Thị D2, Lê Văn T5 đánh bạc trái phép với các bị cáo. Tuy nhiên do số tiền đánh bạc không đủ định lượng. Các đối tượng không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên T5 (tên trên mạng xã hội Tó là “Spo Spo”) là đối tượng trực tiếp nhận số đề từ Vũ Thị H chuyển đến rồi thanh toán tiền thắng thua cho H và đối tượng tên Nguyễn Văn B1 (tên trên mạng xã hội T6 là “Biên Són”) đánh bạc trực tiếp với H thông qua mạng xã hội Telegram, do chưa xác minh được lai lịch, giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

[10] Về án phí: Các bị cáo H, D, T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Phạm Thị B, sinh năm 1963, có đơn xin miễn án phí và thuộc trường hợp người cao tuổi nên xét miễn án phí cho bị cáo.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị H, Lê Thị Mỹ D, Vũ Thị T1Phạm Thị B phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Thị H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến ngày 01/02/2024.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ D 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Thị T1 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Thị B: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Thị B cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Tiếp tục duy trì các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức: Số 307/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 02/8/2024 đối với bị cáo Vũ Thị H; Số 267/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 02/8/2024 đối với bị cáo Lê Thị Mỹ D; Số 269/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 02/8/2024 đối với bị cáo Vũ Thị T1, cho đến khi nhận được quyết định thi hành án của Cơ quan có thẩm quyền.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

  • Buộc bị cáo Vũ Thị H phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền là 7.763.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Lê Thị Mỹ D phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền là 6.762.000 đồng;
  • Buộc bị cáo Phạm Thị Ba P1 nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền là 2.000.000 đồng.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Galaxy S22 Ultra, 01 máy tính hiệu Casio, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng, 01 máy tính hiệu Deli, 1 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy A03, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 1146/QĐ-VKSTPTĐ ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/216C ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.590.000 đồng đã thu từ việc đánh bạc cụ thể: Thu của Lê Văn T5 3.970.000 đồng, thu của Vũ Thị H 4.620.000 đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 145/QĐ-VKSTPTĐ ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt, Phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 24896992 ngày 22/4/2024 của Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh Thành phố T).

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.991.000 đồng do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nộp khắc phục hậu quả, gồm: Lê Văn T5: 13.000 đồng, Nguyễn Thị S1: 3.879.000 đồng, Nguyễn Hữu V1: 2.103.000 đồng, Nguyễn Thị P: 2.996.000 đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 335/QĐ-VKSTPTĐ ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt số 26652814 ngày 30/8/2024; Quyết định chuyển vật chứng số 347/QĐ-VKSTPTĐ ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt và phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 26842968 ngày 16/9/2024; Quyết định chuyển vật chứng số 835A/QĐ-VKSTPTĐ ngày 18/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt số 26883279 ngày 19/9/2024; Các giấy nộp tiền trên tại Ngân hàng TMCP Đ1 – chi nhánh thành phố T).

  • Lưu hồ sơ vụ án 43 tờ phơi đề, 01 quyển tập học sinh, 02 xấp giấy dùng ghi phơi đề.

5. Về án phí:

  • Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc các bị cáo Vũ thị H, Lê Thị Mỹ D, Vũ Thị T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  • Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự so thẩm cho bị cáo Phạm Thị B.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Phạm Thị B được rõ)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 479/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc (hình sự)

  • Số bản án: 479/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị H VÀ ĐỒNG PHẠM-ĐÁNH BẠC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger