TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 479/2023/DS-PT Ngày 06-12-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài.
Bà Ngô Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn – Kiểm sát viên.
Vào ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 356/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 437/2023/QĐ-PT, ngày 16 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 523/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 566/2023/QĐ-PT ngày 24 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh V, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đậu Văn C, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 3 năm 2023); có mặt.
- - Bị đơn: Ông Ngô Hoàng L, sinh năm 1982; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- - Người làm chứng: Bà Ngô Thị S, sinh năm 1944; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Hoàng L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
1. Tại đơn khởi kiện ngày 16/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đậu Văn C trình bày:
Bà Trần Thị Thanh V và ông Ngô Hoàng L là chỗ quen biết nhau. Tháng 01 năm 2021, bà V có cho ông L vay số tiền là 1.170.000.000 đồng. Mục đích vay, theo ông L cho biết là ông dùng trả tiền vay ngân hàng để làm thủ tục vay lại vì đến hạn trả tiền. Do chỗ quen biết và tin tưởng ông L nên hai bên không có viết giấy vay tiền. Thời hạn vay là sau khi ông L trả tiền ngân hàng và vay lại được tiền sẽ thanh toán cho hết cho bà V số nợ nêu trên. Hai bên không thỏa thuận lãi suất vay. Tuy nhiên, sau khi vay tiền của bà V thì ông L không trả cho ngân hàng mà dùng làm việc khác, bà V nhiều lần yêu cầu ông L thanh toán cho bà V số nợ trên thì ông L viện lý do chưa bán được nhà nên chưa có tiền trả nợ cho bà V, bà V có yêu cầu ông L làm giấy xác nhận nợ đối với số tiền trên cho bà V nhưng ông L cứ né tránh. Đến ngày 27 tháng 02 năm 2023, ông L mới làm giấy mượn nợ đối với số tiền trên cho bà V và tiếp tục hứa hẹn với bà V là khi nào trả tiền ngân hàng xong và bán được căn nhà tại thửa đất số 231, tờ bản đồ số 24, diện tích 938m² tọa lạc tại khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01768 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 01 tháng 3 năm 2007 (có cập nhật trang 04 ngày 14 tháng 01 năm 2013, ông L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc được nhận tặng cho) thì ông L sẽ trả cho bà V trước số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, số tiền còn lại sẽ trả dần. Hiện tại, ông L đã trả tiền cho ngân hàng, nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên và cũng đã chuyển nhượng cho người khác bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền nhưng ông L vẫn không trả cho bà V số tiền nợ trên. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà V khởi kiện yêu cầu ông Ngô Hoàng L trả cho bà V toàn bộ số tiền nợ gốc là 1.170.000.000 (một tỷ một trăm bảy mươi triệu) đồng, bà V yêu cầu trả tiền lãi tính từ tháng 02 năm 2021 cho đến thời điểm Tòa án xét xử là 27 tháng, số tiền lãi là 1.170.000.000 đồng x 1.1% tháng x 27 tháng = 347.490.000 (ba trăm bốn mươi bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền bà V yêu cầu ông Ngô Hoàng L có trách nhiệm trả cho bà V là 1.517.490.000 (một tỷ năm trăm mười bảy triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng.
2. Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Hoàng L trình bày:
Ông thừa nhận có vay của bà V số tiền 1.170.000.000 (một tỷ một trăm bảy mươi triệu) đồng, chữ ký và chữ viết trong giấy vay tiền là của ông L. Ông L có ký giấy thỏa thuận với bà V là bán nhà sẽ trả trước 500.000.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ nên ông L đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác cũng không còn tiền trả cho bà V. Trước yêu cầu khởi kiện của bà V, ông L đồng ý trả số tiền gốc cho bà V, ông L yêu cầu được trả dần cho bà V đến khi
3
hết nợ. Việc vay tiền của bà V là cá nhân của ông L không liên quan đến ai trong gia đình.
Tại Văn bản thay đổi ý kiến ngày 07/4/2023, bị đơn ông Ngô Hoàng L trình bày: Ngày 05/4/2023, Tòa án tiến hành hòa giải giữa ông Ngô Hoàng L và bà Trần Thị Thanh V. Tại buổi làm việc, ông L với bà V thống nhất giải quyết vụ án bằng việc thỏa thuận ông L trả cho bà V số tiền 1.170.000.000 đồng và được Tòa án tiến hành lập biên bản hòa giải để thực hiện thủ tục ban hành Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Nhận thấy, sự việc hòa giải giữa ông L với bà V vào ngày 05/4/2023 tại Tòa án là chưa đúng bản chất sự việc do đó ông L có văn bản gửi Tòa án thông báo về việc thay đổi toàn bộ nội dung trong Biên bản hòa giải thành ngày 05/4/2023 tại Tòa án với lý do như sau: Trước khi khởi kiện, bà V thuê người đến nhà ông L tại thị trấn L, huyện B để cưỡng ép gây áp lực cho ông L và buộc ông L phải ký tên nhận số nợ 1.170.000.000 đồng vào giấy mượn tiền do bà V chuẩn bị sẵn. Do bị cưỡng ép, gây áp lực và sợ bị hành hung đối với ông L và cả mẹ ông L có mặt tại buổi cưỡng ép nhận nợ đó, nên ông L buộc lòng phải ký nhận nợ để bảo toàn tính mạng, sức khỏe cho ông L và mẹ ông. Vì vậy, việc ký nhận số nợ 1.170.000.000 đồng không phải là ý chí mong muốn của ông L. Ngoài ra, ông L còn cho rằng việc bà V giao tiền là để hùn vốn làm ăn chung, do thua lỗ nên bà V phải chịu. Do vậy, ông L không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.
3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2023, người làm chứng bà Ngô Thị S trình bày:
Bà Ngô Thị S là mẹ của ông L, bà S không nhớ thời gian cụ thể, bà V có dẫn 03 người đàn ông lạ mặt đến nhà bà S và dùng lời nói buộc ông L ký vào giấy nợ, buộc ông L trả số tiền 500.000.000 đồng. Những người này không dùng hung khí, không đánh đập mà chỉ đe dọa buộc ông L bán nhà trả số tiền 500.000.000 đồng, còn việc ông L có nợ bà V hay không thì bà S không biết.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên vắng mặt và có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Ngô Hoàng L có trách nhiệm trả cho bà V số tiền gốc là 1.170.000.000 (một tỷ một trăm bảy mươi triệu) đồng và tiền lãi tính từ ngày 07 tháng 3 năm 2023 đến ngày xét xử là 04 tháng số tiền là 1.170.000.000 đồng x 0.83% tháng x 4 tháng = 38.844.000 (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Tổng số tiền bà V yêu cầu ông L thanh toán là 1.208.844.000 (một tỷ hai trăm lẽ tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi với số tiền là 308.646.000 đồng.
4
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh V đối với bị đơn ông Ngô Hoàng L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Ngô Hoàng L có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị Thanh V số tiền là 1.208.844.000 (một tỷ hai trăm lẻ tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Trong đó: tiền gốc là 1.170.000.000 (một tỷ một trăm bảy mươi triệu) đồng, tiền lãi là 38.844.000 (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 03/8/2023 bị đơn ông Ngô Hoàng L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Ngô Hoàng L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh V do ông Đậu Văn C đại diện đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn về việc yêu cầu thanh toán số tiền lãi là 308.646.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm
5
đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Phần quyết định này không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh V khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ngô Hoàng L thanh toán số tiền nợ gốc là 1.170.000.000 đồng và số tiền lãi là 1.170.000.000 đồng x 0.83% tháng x 4 tháng = 38.844.000 (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Tổng số tiền bà V yêu cầu ông L thanh toán là 1.208.844.000 (một tỷ hai trăm lẻ tám triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Ông L thừa nhận chữ ký, chữ viết và dấu lăn tay trong Giấy mượn tiền ngày 27/02/2023 là của ông L. Ông L có ký giấy thỏa thuận với bà V là bán nhà sẽ trả trước 500.000.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ nên ông L đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác nhưng không còn tiền trả cho bà V. Trước yêu cầu khởi kiện của bà V, ông L đồng ý trả số tiền gốc cho bà V, ông L yêu cầu được trả dần cho bà V đến khi hết nợ. Việc vay tiền của bà V là cá nhân của ông L không liên quan đến ai trong gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ông L có đơn xin thay đổi yêu cầu không đồng ý trả số tiền gốc cho bà V và ông L cho rằng việc bà V giao tiền là để hùn vốn làm ăn chung, do thua lỗ nên bà V phải chịu. Giấy mượn tiền ngày 27/02/2023 là do ông L bị cưỡng ép, gây áp lực và sợ bị hành hung đối với ông L và cả mẹ ông L có mặt tại buổi cưỡng ép nhận nợ đó nên ông L buộc lòng phải ký nhận nợ để bảo toàn tính mạng, sức khỏe cho ông L và mẹ ông. Do vậy, ông L không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.
[2.1] Tại giấy mượn tiền ngày 27 tháng 02 năm 2023 thể hiện nội dung: ông Ngô Hoàng L có vay bà Trần Thị Thanh V số tiền gốc là 1.170.000.000 đồng, mức lãi suất không ghi trong hợp đồng, thời hạn trả lại số tiền vay các bên thỏa thuận khi ông L chuyển nhượng thửa đất số 231, tờ bản đồ số 24, diện tích 938m² tọa lạc tại khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Xét thấy, ông L thừa nhận chữ ký, ghi họ và tên và dấu lăn tay trong “Giấy mượn tiền” ngày 27/02/2023 là do ông L ký, viết và lăn tay nên việc nguyên đơn xác định có cho ông L vay số tiền gốc là 1.170.000.000 đồng là có thật. Bị đơn ông L thừa nhận vào ngày 07 tháng 3 năm 2023, ông L đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 231, tờ bản đồ số 24, diện tích 938m² tọa lạc tại khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương cho người khác nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán số tiền trên cho bà V. Do đó, bà V khởi kiện yêu cầu ông L trả lại số tiền gốc 1.170.000.000 đồng là có căn cứ, được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
[2.2] Về tiền lãi: Theo thỏa thuận của các bên tại “Giấy mượn tiền” ngày 27/02/2023 thì khi bị đơn chuyển nhượng đất xong phải thanh toán tiền nợ cho nguyên đơn. Tại biên bản làm việc ngày 12/5/2023, ông linh trình bày ông đã
6
chuyển nhượng thửa đất số 231, tờ bản đồ số 24, diện tích 938m² tọa lạc tại khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01768 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 01 tháng 3 năm 2007 cho một người tên là M với số tiền 5.000.000.000 đồng qua hình thứa hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên, ông L vẫn không thanh toán tiền cho nguyên đơn nên thuộc trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, thời hạn tính lãi được tính từ ngày 07/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 14/7/2023 là 04 tháng 07 ngày. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán 04 tháng tiền lãi là có lợi cho nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi: 1.170.000.000 đồng x 0.83% tháng x 4 tháng =38.844.000 đồng được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[2.3] Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng việc bà V giao tiền là để hùn vốn làm ăn chung, do thua lỗ nên bà V phải chịu. Xét thấy, ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông với bà V hùn vốn làm ăn vào việc gì nên không có căn cứ chấp nhận. Ngoài ra, ông L còn cho rằng việc ông L ký Giấy mượn tiền ngày 27/02/2023 là do ông L bị cưỡng ép, gây áp lực và sợ bị hành hung đối với ông L và cả mẹ ông L có mặt tại buổi cưỡng ép nhận nợ đó nên ông L buộc lòng phải ký nhận nợ để bảo toàn tính mạng, sức khỏe cho ông L và mẹ ông. Tuy nhiên, ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bị bà V gây áp lực hay đe dọa. Hơn nữa, tại Bản tự khai (bút lục 22) và Biên bản hòa giải ngày 05/4/2023 (bút lục 36-37), ông L đã tự thừa nhận ông còn nợ bà V số tiền là 1.170.000.000 đồng, do làm ăn thua lỗ nên ông bán nhà cũng không còn tiền trả cho bà V nên ông yêu cầu được trả dần. Lời thừa nhận này của bị đơn là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã lập Biên bản hòa giải thành ngày 05/4/2023 nhưng đến ngày 10/4/2023 ông L nộp văn bản thay đổi ý kiến. Do vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận lời trình bày này của bị đơn.
[2.4] Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2023, người làm chứng bà Ngô Thị S là mẹ ruột ông L cho rằng bà V có dẫn 03 người lạ mặt đến nhà đe dọa bằng lời nói buộc ông L ký vào giấy nợ và buộc ông L bán nhà để trả cho bà V số tiền 500.000.000 đồng. Xét thấy, bà S không có chứng cứ chứng minh việc ông L bị bà V cưỡng ép hay đe dọa buộc ký Giấy mượn tiền ngày 27/02/2023 nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của bà S.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có cơ sở nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Hoàng L.
7
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Hoàng L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Ngô Hoàng L phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010354 ngày 07/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 479/2023/DS-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 479/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án st
