|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 479/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Sức
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 121/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1985 nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 02 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, ông và bà X tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2009 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 188 ngày 15/9/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải nhau nhiều lần về tiền bạc và nợ nần, chủ nợ nhiều lần đến đòi nợ, ông hỏi nợ gì thì bà X không trả lời. Ông nhiều lần khuyên nhưng bà X không thay đổi nên ông dọn ra ngoài sinh sống, không còn chung sống với bà X từ ngày 05/5/2023âl cho đến nay. Ông yêu cầu được ly hôn với bà X.
Ông và bà X có 02 con chung Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 2010 và Nguyễn Trung H1, sinh năm 2016 ông đang nuôi dưỡng. Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con. Ông không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung không có.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ X có mặt tại phiên tòa trình bày: Thống nhất về thời gian chung sống, có hai con chung, không có tài sản chung như ông T trình bày. Ông T đã có vợ khác, bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T. Con chung đồng ý giao ông T nuôi dưỡng. Không có tài sản chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông T được ly hôn với bà X. Ông T và bà X có 02 con Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 2010 và Nguyễn Trung H1, sinh năm 2016 giao ông T được tiếp tục nuôi dưỡng; ông T không yêu cầu nên không buộc bà X phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét xét giải quyết. Ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú xã H, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Ông T và bà X tự nguyện đi đến hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 188 ngày 15/9/2010 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Ông T cho rằng bà X nợ tiền nhiều người, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, mâu thuẫn trầm trọng nên đã ly thân từ tháng 5 năm 2023âl đến nay. Ông T yêu cầu ly hôn, được bà X đồng ý, do đó Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông T và bà X.
- Về con chung: Ông T và bà X có 02 con chung Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 2010 và Nguyễn Trung H1, sinh năm 2016 ông T đang nuôi dưỡng. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung, phù hợp với nguyện vọng của các cháu được tiếp tục sống với ông T. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, giao hai con chung cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu nên không buộc bà X phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà X không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị Mỹ X.
- Về con chung: Ông T và bà X có 02 con chung Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 2010 và Nguyễn Trung H1, sinh năm 2016; giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung. Ông T không yêu cầu nên không buộc bà X cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện bà X đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở bà X thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006653 ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân.
Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bà X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Văn |
Bản án số 479/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 479/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T xin ly hôn X
