|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 489/2024/DS-PT
Ngày: 25-11-2024
V/v: “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 262/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 402/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tô Cẩm T, sinh năm 1974. Địa chỉ: A, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: A khu vực P, phường T quận C, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 25/3/2023). Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T2, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số B, khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, khu T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 14/10/2024) Có mặt
* Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu: Bà Tô Cẩm T là chủ sử dụng thửa đất số 150, tờ bản đồ số 05, diện tích 1176 m², tọa lạc tại khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Nguồn gốc của thửa đất này là nhận thừa kế từ bà Trần Thị X vào năm 2018. Bà T sử dụng thửa đất này khoảng năm 1997 đến năm 2018 chồng bà T mất thì bà X (là mẹ chồng) có để thừa kế lại thửa đất này cho bà T.
Từ vị trị đường lộ đi vào thì phía tay phải giáp ranh với thửa đất số 1117 của bà T2. Từ khi bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất này đã được cắm trụ ranh bằng bê tông ổn định đến nay. Quá trình sử dụng đất, bà T phát hiện bà T2 có hành vi lấn ranh đất thể hiện bằng việc trồng cây và xây gạch làm hàng rào lấn sang thửa đất số 150 của bà T diện tích lấn chiếm khoảng 60m². Bà T đã yêu cầu bà T2 ngừng xây dựng để trả đất nhưng bà T2 không chấp nhận. Sự việc đã được hòa giải tại UBND phường T hòa giải nhưng không thành.
Nay, bà T khởi kiện yêu cầu bà bà Nguyễn Thị Lệ T2 chấm dứt hành vi lấn chiếm ranh đất và có trách nhiệm tháo dỡ công trình xây dựng, di dời toàn bộ cây trồng trên phần đất của bà T để hoàn trả lại cho bà T phần diện tích lấn chiếm khoảng 60m² đất (chiều ngang khoảng 02m và khoảng chiều dài 30m) trên thửa đất số 150, tờ bản đồ số 05, tại khu vực P, phường T, quận C thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000048 do UBND quận C cấp cho bà Trần Thị X vào ngày 23/6/2004, để thừa kế cho bà Tô Cẩm T năm 2018.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm diện tích khoảng 37m² đất cụ thể đầu ngoài tiếp giáp phần sau nhà bị đơn là 1.13m thì vẫn giữ nguyên (đo theo hiện trạng là 1.13m), đầu phía dưới cặp mương công cộng thì thay đổi so với hiện trạng là 1.33m (đo theo hiện trạng là 2.15m). Về chiều dài tranh chấp thì tính từ đầu vị trí tranh chấp kéo dài đến đầu phía cặp mương công cộng.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T2 trình bày:
Bà là chủ sử dụng thửa đất số 1117, diện tích 1.046m², loại đất CLN, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10404, cấp ngày 31/12/2019. Nguồn gốc của thửa đất này là đất gốc của ông bà để lại. Giáp ranh với thửa đất 150 của bà T. Trước đây giữa hai thửa đất là có mương ranh mỗi người sử dụng nửa con mương sau này bà T lắp con mương để xây dựng nhà trọ, phần nhà trọ của bà T xây dựng hết diện tích con mương. Khi nhà trọ hoạt động thì nước thải chảy ra nhiều nên đầu tháng 02 năm 2023 bà mới xây dựng hàng gạch tại vị trí cặp ranh để ngăn nước thải chảy vào phần mồ mã ông bà. Vị trí bà xây hàng gạch là trên thửa đất số 1117 của bà, không lấn sang phần đất của bà T. Hàng Dừa trên đất đã có hơn 20 năm, đây là hàng dừa bà trồng để sử dụng chứ không phải trồng làm ranh đất. Bà không lấn ranh đất của bà T nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Cẩm T.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T2 phải trả lại phần đất lấn chiếm diện tích khoảng 37m² đất cụ thể cụ thể đầu ngoài tiếp giáp phần sau nhà bị đơn là 1.13m thì vẫn giữ nguyên (đo theo hiện trạng là 1.13m), đầu phía dưới cặp mương công cộng thì thay đổi so với hiện trạng là 1.33m (đo theo hiện trạng là 2.15m). Về chiều dài tranh chấp thì tính từ đầu vị trí tranh chấp kéo dài đến đầu phía cặp mương công cộng thuộc thửa đất số 1117, tờ bản đồ số 5, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10404, cấp ngày 31/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T2, đất tọa lạc tại Khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo bản trích đo địa chính ngày 28/3/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C tại vị trí tranh chấp ký hiệu A).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/6/2024 bị đơn nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên Tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- Đại diện bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp hiện bị đơn và nguyên đơn cùng sử dụng, bị đơn có trồng dừa trên đất tranh chấp hơn 20 năm, có cất nhà từ khoảng năm 2011. Bị đơn thống nhất ranh đất giáp mương công công như cấp sơ thẩm xác định, đối với ranh đất phía sau nhà bị đơn thì không thống nhất, vì tuyên án như cấp sơ thẩm thì sẽ phạm vào phần mái sau nhà của bị đơn, vì vậy, đề nghị cấp phúc thẩm chia đôi phần này. Sau khi xác định ranh rõ ràng thì tài sản của ai năm trên đất của người kia thì người đó phải di dời.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án và kháng cáo: Theo kết quả đo đạc, thẩm định thì ranh đất giữa hai bên đều do nguyên đơn, bị đơn tự chỉ ranh, không ranh cố định. Bị đơn và nguyên đơn đều sử dụng thiếu đất so với giấy chứng nhận. Nên cần xác định ranh và chia phần đất tranh chấp thành hai phần, cụ thể đầu giáp nhà bà T2 chia cho bà T2 0,4m, đầu giáp mương công cộng giữ nguyên như cấp sơ thẩm. Đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Theo kết quả đo đạc thực tế được thể hiện tại bản trích đo địa chính ngày 28/3/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện thửa đất 150 tiếp giáp thửa đất 1117 nếu chưa tính diện tích 49,5m²(vị trí A) tranh chấp thì nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng diện tích thực tế là:
- Nguyên đơn bà Tô Cẩm T đang sử dụng thửa đất 150, diện tích 961,6m², thiếu 115,4m² so với giấy chứng nhận.
Nguồn gốc đất thửa 150, tờ bản đồ số 5, thuộc khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ là của hộ Trần Thị X, bà T được nhận thừa kế vào ngày 09/3/2018 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000048 cấp ngày 23/6/2004 do Ủy ban nhân dân quận C cấp cho hộ Trần Thị X.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T2 đang sử dụng thửa đất 117, diện tích 1.012,6m², thiếu 33,4m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguồn gốc đất thửa 1117, tờ bản đồ số 5, thuộc khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ là của hộ bà Nguyễn Thị Lệ T2, sau đó bà T2 xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10404 cấp ngày 31/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đã lấn chiếm khoảng 37m². Như vậy, phần diện tích tranh chấp được xác định lại là khoảng 37m². Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do đất bị đơn sử dụng ổn định từ trước đến nay và yêu cầu giữ nguyên diện tích đã được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2023 thì trên phần đất tranh chấp có 04 cây dừa của bị đơn khai trồng khoảng 20 năm; ranh giới giữa hai thửa đất của nguyên đơn với bị đơn đều do các đương sự tự chỉ ranh, không có trụ ranh cố định, các đương sự không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh ranh đất như mình chỉ, cũng không có sơ sở gì để xác định ranh theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
Theo thừa nhận của các đương sự, hình ảnh do bị đơn cung cấp thể hiện phần đất tranh chấp phía sau nhà bị đơn, do nguyên đơn và bị đơn cùng sử dụng làm lối thoát nước thải, phần đất tranh chấp nguyên đơn và bị đơn cùng sử dụng.
Thực tế, nếu không tính luôn phần đất tranh chấp thì diện tích thực tế cả nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng vẫn ít hơn so với với diện tích được cấp giấy chứng nhận, không có căn cứ để xác định ranh đất theo trình bày của các đương sự, các đương sự cũng không thỏa thuận được ranh giới nên cần phải xác định ranh rõ ràng cho các đương sự, tránh tranh chấp sau này, đồng thời ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Cấp sơ thẩm căn cứ vào lược đồ giải thửa trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, bị đơn, diện tích thực tế nguyên đơn và bị đơn đang sử dụng, yêu cầu của nguyên đơn để xác định cạnh giáp mương công cộng của nguyên đơn là 25m (lược đồ giải thửa là 26m), của bị đơn là 34, 55m (lược đồ giải thửa là 34,6m), là phù hợp.
Đối với cạnh đối diện, cấp sơ thẩm buộc bị đơn giao trả cho nguyên đơn 1,13m là chưa có cơ sở, Bởi trụ đá xác định ranh không được bị đơn thừa nhận đã tồn tại trên 30 năm, không thừa nhận trụ đá là ranh, phần đất này hai bên đang cùng sử dụng nên chia cho nguyên đơn 0,73m, chia cho bị đơn 0,4m, là phù hợp với tình hình thực tế sử dụng và lẽ công bằng.
Như vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
[2.3] Đối với tài sản trên đất tranh chấp, các đương sự đồng ý tự di dời nên ghi nhận (xác định đất của ai thì bên kia phải di dời, đốn bỏ).
[3] Về án phí:
- Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch
- Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Cấp sơ thẩm chi hết 8.087.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã nộp trước để thanh toán. Nay nguyên nhân phát sinh tranh chấp do lỗi cả hai bên nên mỗi bên phải chịu ½, bị đơn phải hoàn lại số tiền này cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 170, 203 Luật đất đai năm 2013;
Chấp nhận một phần kháng cáo bị đơn Nguyễn Thị Lệ T2;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định ranh giới giữa thửa đất 150 với thửa đất 1117 (ranh tại vị trí A trên bản trích đo địa chính) là đường thẳng kéo dài hết phần A, ranh được nối liền từ điểm cạnh có chiều dài 2,15m (điểm này cách thửa 150 là 1,33m và cách thửa 1117 là 0,82m) đến điểm cạnh có chiều dài 1,13m (điểm này cách thửa 150 là 0.73m và cách thửa 1117 là 0,40m)
Ranh giới giữa thửa đất 150 với thửa đất 1117 tại vị trí A là đường thẳng nằm trên diện tích 49,5m²(vị trí A), chia diện tích tranh chấp thành 02 phần. Phần diện tích phía thửa đất 150, nguyên đơn được quyền sử dụng; bị đơn có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản giao trả lại quyền sử dụng phần đất này cho nguyên đơn. Phần diện tích phía thửa đất 1117, bị đơn được quyền sử dụng.
Căn cứ vào Bản trích đo địa chính số 288/TTKTTNMT ngày 28/03/2024 do Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C cung cấp để xác định vị trí, kích thước, diện tích phần đất tranh chấp, vị trí ranh giới giữa thửa đất 150 với 1117.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu 4.043.500đ, đã nộp và chi xong. Bị đơn phải chịu 4.043.500₫ để trả lại cho nguyên đơn.
3. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003456 ngày 29/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải nộp.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 489/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Số bản án: 489/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
