Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 478/2024/DS-PT

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 05-12-2024

 

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Ông Đặng Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 407/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 319/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hồ Thị C. Sinh năm: 1952. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Chí T, sinh năm: 1992. Địa chỉ thường trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Ông Hồ Văn Đ. Sinh năm: 1954. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
    2. Bà Ngô Thị L. Sinh năm: 1956. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Bùi Thị T1. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
    2. Ông Hồ Duy T2. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
    3. Bà Nguyễn Thị Q. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
    4. Ông Phan Văn S. Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Bà Hồ Thị C là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Hồ Thị C trình bày: Bà và ông Hồ Văn Đ là chị em ruột. Năm 1983 cha mẹ bà có cho bà một phần đất diện tích 11.500m², chồng của bà là ông Đỗ Duy T3 kê khai đăng ký đất đai và được cấp giấy chứng nhận ngày 18/12/1983 với tổng diện tích 11.500m2 tại ấp T, xã B, huyện C (nay là xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau). Trong đó, có 1.000m² đất thổ cư. Cùng thời điểm cho đất thì cha bà có cho đất ông Hồ Văn Đ tiếp giáp với phía sau đất của bà. Đến năm 1990, ông Đ có hỏi vợ chồng bà cho ông Đ mượn một phần đất thổ cư để cất nhà ở vì phần đất cha cho ông Đ là đất ao vũng, không cất nhà được thì vợ chồng bà đồng ý cho ông Đ mượn phần đất thổ cư ngang 05m x dài 25m ông Đ cất nhà ở cho đến nay, việc cho mượn không có làm giấy tờ. Đến năm 1995 chính quyền địa phương thông báo đến người dân về việc làm sổ đất và làm lại sổ đất. Gia đình bà tiến hành thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/1995 với tổng diện tích 11.100m² đứng tên Đỗ Duy T3. Do hoàn cảnh khó khăn nên khi được cấp lại sổ đỏ thì vợ chồng bà đem thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền, cũng một phần không hiểu biết, hiểu biết kém về con chữ nên không rõ diện tích đất được cấp lại ít diện tích hơn so với giấy cũ. Đến năm 2020 thì chồng bà là ông Đỗ Duy T3 chết không để lại di chúc. Đến năm 2022 bà chuộc sổ đỏ tại Ngân hàng về thì phát hiện diện tích đất được cấp giấy năm 1995 ít hơn so với giấy năm 1983, mất 700m² đất thổ cư. Gia đình bà có yêu cầu gia đình ông Hồ Văn Đ di dời nhà trả lại phần đất thổ cư đã cho mượn thì ông Đ không đồng ý. Ngoài phần đất cho mượn thì ông Đ còn chiếm luôn phần đất thổ cư còn lại trong tổng 700m² đất thổ cư bà đã bị mất.

Bị đơn ông Hồ Văn Đ và bà Ngô Thị L trình bày: Ông bà xác định không có mượn đất để cất nhà ở như bà C trình bày. Phần đất thổ cư hiện nay ông bà đang cất nhà ở là của cha mẹ cho, đến năm 1995 đã được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 18.970m², trong đó thổ cư là 300m², đất chuyên dùng là 370m², còn lại là đất lập vườn và trồng lúa. Phần đất được cho nằm song song với đất của bà C, không phải phía sau đất bà C như bà C trình bày. Năm 2005 thì vợ chồng ông bà có tranh chấp ranh đất thổ cư với ông Phan Văn T4 và đã được UBND xã H hòa giải tiến hành cặm ranh đất xong đến nay không tranh chấp. Năm 2021 ông bà có chuyển nhượng một phần đất thổ cư ngang 6,5m x 26m cho ông Phan Văn S đang cất nhà ở trên đất với giá 380.000.000 đồng, việc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay chưa tách quyền sử dụng đất. Nay bà C khởi kiện yêu cầu ông bà trả phần đất thổ cư 700m² thì ông không đồng ý vì ông bà không có mượn đất và chiếm đất của bà C.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị C về việc buộc ông Hồ Văn Đ, bà Ngô Thị L trả phần đất thổ cư có diện tích 700m² tọa lạc tại ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn bà Hồ Thị C kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Chí T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận cho rằng vị trí đất của nguyên đơn và bị đơn bị trùng lấn. Bị đơn ông Hồ Văn Đ, bà Ngô Thị L đồng ý với bản án sơ thẩm và không kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn là bà Hồ Thị C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Hồ Thị C kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do: Việc bà C cho mượn đất là vào năm 1990, theo giấy kê khai đăng kí năm 1993 là cho hộ gia đình nên cần bổ sung các con bà vào tham gia tố tụng. Nếu cho rằng phần đất tranh chấp là của bị đơn thì vì sao khi Tòa án thẩm định bị đơn lại không cho đo đạc thẩm định, phía Tòa án cũng không xác minh được cụ thể phần đất này sự thật có phải của bị đơn hay là mượn của gia đình bà C.

[1.1] Xét yêu cầu kháng cáo của bà C về việc bổ sung người tham gia tố tụng là các con của bà Hồ Thị C là không cần thiết. Bởi lẽ: Theo giấy kê khai đăng ký đất đai năm 1983 là kê khai cho hộ nhưng đến ngày 01/5/1993 ông Đỗ Duy T3 có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo luật đất đai năm 1993) thì không phải đăng ký kê khai cho hộ gia đình và được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/1995 cho ông Đỗ Duy T3 (chồng bà C). Năm 2020 ông T3 chết, đến năm 2023 để thừa kế đất cho bà C và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh biến động ngày 30/8/2023. Do đó, bà C tự mình có quyền khởi kiện và không cần có xác nhận hay được sự đồng ý của các con bà C. Do đó yêu cầu kháng cáo này của bà C không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[1.2] Đối với kháng cáo của bà C cho rằng bị đơn không cho đo đạc thẩm định, phía Tòa án cũng không xác minh được cụ thể phần đất này sự thật có phải của bị đơn hay là mượn của gia đình bà C. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Bà C xác định phần đất của bà được cha mẹ cho vào năm 1983, vợ chồng bà quản lý sử dụng đến năm 1990 thì có cho ông Đ mượn một phần đất thổ cư ngang 05m x dài 25m để cất nhà ở vì phần đất cha mẹ cho ông Đ là đất ao vũng, không cất nhà được. Tuy nhiên việc cho mượn đất thì bà C không có giấy tờ chứng minh, ông Đ không thừa nhận lời trình bày này của bà C. Đồng thời bà C cũng xác định phần đất tranh chấp không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1995 của bà mà nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 1995 của ông Đ.

Mặc khác bà C xác định phần đất mà cha mẹ cho bà có tổng diện tích 11.500m² trong đó đất thổ cư là 1000m² được thể hiện tại Giấy chứng nhận kê khai đăng ký đất đai ngày 18/12/1983. Tuy nhiên, theo hồ sơ cấp quyền sử dụng đất do nguyên đơn cung cấp thể hiện rõ tại Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/5/1993 do ông Đỗ Duy T3 kê khai diện tích đất xin được cấp là 11.100m², trong đó diện tích đất thổ cư và đất lập vườn là 600m² thuộc thửa số 36, tờ bản đồ số 08, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã C ký Quyết định số 564QĐ/UB ngày 20/9/1994 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức và cá nhân đủ điều kiện, có danh sách kèm theo. Theo danh sách thì diện tích đất ông Đỗ Duy T3 được cấp theo kê khai là 11.100m². Đến ngày 06/01/1995 được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 11.100m² đứng tên Đỗ Duy T3, trong đó phần đất thổ cư 300m², đất lập vườn 300m² thuộc thửa số 36, tờ bản đồ số 08. Quá trình quản lý sử dụng đất cho đến nay gia đình bà C không có ý kiến hay khiếu nại gì với cơ quan có thẩm quyền đối với Quyết định cấp đất về diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/01/1995 của gia đình bà cũng như của gia đình ông Đ.

Hơn nữa từ trước đến nay bà C là người sinh sống tại địa phương. Vào năm 2021 ông Đ, bà L chuyển nhượng một phần đất ngang 6,5m x dài 26m cho vợ chồng ông S, bà Q (giáp đất bà C đang quản lý) và ông S, bà Q đã cất nhà ở trên đất nhận chuyển nhượng cho đến nay nhưng bà C không ý kiến gì, không ngăn cản, không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết về việc chuyển nhượng đất này.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn có kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình ngoài những chứng cứ đã được cấp sơ thẩm xem xét.

[3] Từ những phân tích trên, bản án sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị C là phù hợp, đúng quy định. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị C được miễn án phí theo quy định. Ông Hồ Văn Đ và bà Ngô Thị L không phải chịu án phí.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị C không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hồ Thị C.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị C về việc buộc ông Hồ Văn Đ, bà Ngô Thị L trả phần đất thổ cư có diện tích 700m² tọa lạc tại ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  2. Về án phí
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Thị C được miễn án phí theo quy định; Ông Hồ Văn Đ và bà Ngô Thị L không phải chịu án phí.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị C không phải chịu do là người cao tuổi đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
  • - Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 478/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 478/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger