Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 478/2024/DS-PT

Ngày: 26-11-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng mua

bán tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Những.

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Vào ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 424/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 439/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1983.
  2. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số D Đường N, Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 04/6/2024).

  3. Bị đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1976.
  4. Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phạm Xuân T1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. 3.1. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1972.

    Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

    3.2. Ông Nguyễn Phương K, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Hà Thị T, ông Trần Văn T2.

(Ông H, bà T, Luật sư Thự có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim L do ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Phạm Thị Kim L và ông Nguyễn Phương K là vợ chồng. Vợ chồng bà L có giao dịch mua bán chanh với vợ chồng bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2. Cụ thể, vợ chồng bà L mua chanh về bán lại cho vợ chồng bà T là chủ vựa chanh. Khi giao chanh thì có lúc bà T nhận, có lúc ông T2 nhận. Khi trả tiền thì bà T là người trả, ông T2 là người cân chanh và lựa chanh. Tổng cộng những lần bà L giao chanh cho vợ chồng bà T, mà vợ chồng bà T còn thiếu tiền không trả cho bà L cụ thể như sau:

  • Ngày 10/12/2022: 788kg chanh x 11.000 đồng = 8.668.000 đồng.
  • Ngày 01/6/2023: 835kg chanh x 8.700 đồng = 7.264.500 đồng.
  • Ngày 15/7/2023: 499kg chanh x 5.500 đồng = 2.744.500 đồng.
  • Ngày 16/7/2023: 502kg chanh x 5.500 đồng = 2.761.000 đồng.

Ngoài ra, bà T và ông T2 còn nợ số tiền của những đợt bán chanh trước đó với số tiền là 48.948.000 đồng. Tổng cộng số tiền chanh mà bà T và ông T2 còn nợ bà L là 70.386.000 đồng.

Khi mua bán có lúc bà T trả tiền ngay, có lúc nợ lại tiền, hình thức trả tiền là bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Trường hợp chuyển khoản, thì bà T chuyển tiền qua số tài khoản của bà L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Khi trả tiền mặt, thì bà T thu lại các hóa đơn do bà T xuất.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 phải trả cho bà L số tiền tổng cộng là 70.386.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 08/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Đối với các ủy nhiệm chi chuyển khoản từ bà T sang bà L mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cung cấp cho Tòa án, bà L xác định bà T chuyển khoản để thanh toán cho các tờ hóa đơn giao chanh theo ngày trên tờ ủy nhiệm chi. Các tờ hóa đơn này bà T đã thu lại nên bà L không còn giữ.

Bị đơn là bà Hà Thị T trình bày:

Bà Hà Thị T có giao dịch mua bán chanh với ông Nguyễn Phương K là chồng bà L. Khi mua bán, hai bên có trả tiền mặt và chuyển khoản, ông K cho bà T số tài khoản tên bà Phạm Thị Kim L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Bà T đã nhiều lần chuyển khoản cho bà L, số tài khoản 070102662480, để thanh toán tiền mua bán chanh trong khoảng thời gian từ ngày 20/12/2022 đến ngày 07/9/2023, còn khi trả tiền mặt thì không có giấy tờ. Hiện tại, bà T đã trả đủ tiền cho ông K nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Khi bà T chuyển khoản thì không thu lại hóa đơn mua bán, còn khi trả tiền mặt xong thì bà T thu lại hóa đơn mua bán chanh như phía nguyên đơn trình bày.

Bà T xác định các hóa đơn đề ngày 20/01/2022; 15/7/2023; 16/7/2023; 10/12/2022; 01/6/2023 mà bà L nộp cho Tòa án là của cửa hàng do bà T làm chủ.

Ông Trần Văn T2 là chồng bà T. Ông T2 ở nhà làm ruộng, không kinh doanh mua bán chanh và tham gia chơi hụi, vay tiền gì với bà T. Khi làm ruộng thì ông T2 có nhà riêng để sống. Hiện hai vợ chồng đã ly thân cách đây khoản một năm. Bà T làm nghề mua bán chanh cách đây khoảng 05 đến 06 năm, mục đích kinh doanh mua bán chanh để chi tiêu cá nhân của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Ông Trần Văn T2 là chồng bà T. Ông T2 không biết gì về việc mua bán chanh giữa bà L và bà T. Đồng thời, ông T2 không có sử dụng bất cứ số tiền nào liên quan đến việc bà T kinh doanh mua bán chanh. Do đó, ông T2 không đồng ý liên đới cùng bà T trả tiền cho bà L.

Ông T2 ở nhà làm ruộng, không kinh doanh mua bán chanh với bà T. Ông T2 và bà T có 03 người con chung, trong đó có 01 người con chưa thành niên, hai người con còn lại đã thành niên và có cuộc sống riêng. Đối với người con chưa thành niên thì ở chung với bà T. Khi làm ruộng thì ông T2 có nhà riêng để sống. Ông T2 và bà T đã ly thân cách đây khoảng một năm. Bà T làm nghề mua bán chanh cách đây khoảng 05 đến 06 năm, mục đích kinh doanh mua bán chanh là để chi tiêu cho cá nhân của bà T. Ông T2 và bà T không có sử dụng khoản tiền chung nào.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Phương K trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Ông K là chồng của bà L. Ông K thống nhất toàn bộ với ý kiến và yêu cầu của bà L, số tiền mua bán chanh là tiền chung của vợ chồng. Tuy nhiên, ông K đồng ý để bà L toàn quyền quyết định và khởi kiện vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 288, 351, 352, 357, 430, 432, 433, 440 và 468 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim L đối với bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2.
  2. Buộc bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị Kim L số tiền 74.047.010 đồng.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, bên có nghĩa vụ thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Buộc bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.702.350 đồng sung quỹ Nhà nước.

    H1 lại cho bà Phạm Thị Kim L số tiền tạm ứng án phí 2.059.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006913 ngày 22/01/2024 và 0007435 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 29/7/2024, bị đơn bà Hà Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 29/7/2024, ông Trần Văn T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng ông không đồng ý liên đới cùng bà T trả nợ cho bà L.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông xác định số tiền nợ theo các hóa đơn của cửa hàng bà T, bà T chưa trả tiền cho bà L nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Bị đơn bà Hà Thị T trình bày: Các hóa đơn phía nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ khởi kiện là của cửa hàng do bà T làm chủ, tổng số tiền trong các hóa đơn này là 70.386.000 đồng. Từ ngày 16/11/2022 đến ngày 07/9/2023 bà đã chuyển cho bà L số tiền 120.000.000 đồng là dư so với số tiền nợ. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Luật sư Phạm Xuân T1 trình bày:

  • Hóa đơn ngày 20/01/2022: 48.948.000 đồng, bà T đã chuyển khoản trả vào ngày 30/12/2022: 20.000.000 đồng, ngày 20/01/2023: 29.000.000 đồng.
  • Hóa đơn ngày 10/12/2022: 8.668.000 đồng, bà T trả tiền mặt cho bà L.
  • Hóa đơn ngày 01/6/2023: 7.264.000 đồng; Hóa đơn ngày 15/7/2023: 2.744.000 đồng; Hóa đơn ngày 16/7/2023: 2.761.000 đồng, Bà T đã chuyển trả 2.975.000 đồng vào ngày 15/7/2023 và 10.000.000 đồng vào ngày 07/8/2023.
  • Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Hà Thị T, ông Trần Văn T2 đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

  • Ông Trần Văn T2 kháng cáo không đồng ý cùng bà T liên đới trả nợ: Tại phiên tòa ông T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 289, 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông T2.
  • Xét kháng cáo của bà T yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do bà đã chuyển tiền dư so với số tiền nợ chanh của K nên bà T không còn nợ tiền chanh, xét thấy:

Từ khoảng năm 2022-2023, giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Kim L và bị đơn bà Hà Thị T có phát sinh giao dịch mua bán chanh, bà L và ông K là bên bán, bà T là bên mua. Bà L giao chanh, bà T chốt số lượng, số tiền nợ nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể: ngày 10/12/2022 là 8.668.000 đồng, ngày 20/01/2023 là 48.948.000 đồng, ngày 01/6/2023 là 7.264.500 đồng, ngày 15/7/2023 là 2.744.500 đồng và ngày 16/7/2023 là 2.761.000 đồng, tổng cộng là 70.386.000 đồng.

Về sao kê chứng từ chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng của bà T đến số tài khoản cá nhân của bà L: do giữa nguyên đơn và bị đơn tiến hành giao dịch mua bán chanh nhiều lần trong năm 2022 và năm 2023, việc bị đơn chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của nguyên đơn nhưng không ghi rõ nội dung giao dịch là gì, không chứng minh được số tiền nêu trên dùng để thanh toán cho các hóa đơn ghi nợ có chữ viết và chữ ký của bị đơn mà nguyên đơn đã cung cấp.

Về các chứng từ do ngân hàng cung cấp: Ngày 20/12/2022, 30/12/2022, 20/01/2023 chuyển 29.000.000đ, ngày 19/5/2023, ngày 07/8/2023, ngày 07/9/2023 bà T chuyển khoản vào tài khoản của bà L nhưng không ghi rõ nội dung giao dịch, ngày 15/02/2023 thì ghi rõ chuyển khoản cho tờ ngày 14/02, ngày 20/02/2023 thì ghi chuyển cho tờ ngày 18/02, tương tự ngày 21/02/2023 chuyển cho tờ 19/02, ngày 23/02/2023 chuyển cho tờ ngày 15/02, ngày 7/3/2023 chuyển cho tờ 21/2, ngày 30/5/2023 chuyển cho tờ 26/5, ngày 28/6/2023 chuyển tờ ngày 27/6, ngày 13/7/2023 chuyển tờ 12/7/2023, ngày 15/7/2023 chuyển cho tờ 14/7. Như vậy, không có chứng từ giao dịch ngân hàng nào chứng minh cho việc bà T đã thanh toán cho các hóa đơn còn nợ mà nguyên đơn cung cấp.

Như vậy, bà L là người bán, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình là giao chanh cho bà T, bằng chứng là những hóa đơn ghi số lượng và số tiền mua bán có chữ viết và chữ ký của bà T, do bà T đưa cho bà L. Bà T là người mua, mặc dù đã nhận đủ số lượng hàng hóa là chanh, nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Do đó cấp sơ thẩm buộc bà T trả cho bà L số tiền 70.386.000 đồng còn nợ là phù hợp.

Bà T kháng cáo cho rằng bà đã chuyển khoản trả tiền chanh cho ông K, bà L gồm ngày 16/11/2022 chuyển 30.000.0000đ, ngày 30/11/2022 chuyển 10.000.000đ, ngày 20/12/2022 chuyển 30.000.000đ, ngày 30/12/2022 chuyển 20.000.000đ, ngày 19/5/2023 chuyển 10.000.000đ, ngày 07/8/2023 chuyển 10.000.000đ, ngày 07/9/2023 chuyển 10.000.000đ, như vậy, bà T đã chuyển cho ông K, bà L số tiền 120.000.000đ là dư nợ tiền chanh. Tuy nhiên, theo sao kê chuyển tiền ngày 20/12/2022, ngày 30/12/2022, ngày 19/5/2023, ngày 07/8/2023, ngày 07/9/2023 chuyển tiền cho K mà không ghi nội dung chuyển tiền gì. Do đó bà T kháng cáo cho rằng đã trả hết nợ tiền chanh là không có căn cứ.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Hà Thị T, ông Trần Văn T2 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phương K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trần Văn T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
  4. Bà Phạm Thị Kim L khởi kiện yêu cầu bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 phải trả cho bà L số tiền mua bán còn nợ tổng cộng là 70.386.000 đồng và tiền lãi.

    Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Hà Thị T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo của bà Hà Thị T, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

    Ông Trần Văn T2 kháng cáo không đồng ý cùng bà T liên đới trả nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 289, 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông T2.

  5. [4] Xét kháng cáo của bà Hà Thị T, thấy rằng:
  6. [4.1] Bà Phạm Thị Kim L cho rằng cùng chồng là ông Nguyễn Phương K có giao dịch mua bán chanh đối với vợ chồng bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 trong thời gian dài. Cụ thể, vợ chồng bà L mua chanh về và bán lại cho vợ chồng bà T là chủ vựa chanh. Khi giao chanh thì có lúc bà T nhận, có lúc ông T2 nhận. Tổng cộng số tiền bà T và ông T2 còn nợ vợ chồng bà L và ông K là 70.386.000 đồng.

    Bà T xác định có giao dịch mua bán chanh với ông K. Khi mua bán, hai bên có trả tiền mặt và chuyển khoản qua số tài khoản của bà Phạm Thị Kim L mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S để thanh toán. Khi trả tiền mặt, các bên không có giấy tờ giao nhận. Hiện tại, bà T đã trả đủ tiền, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L.

    [4.2] Xét thấy, bà L xác định số tiền nợ theo các hóa đơn của cửa hàng bà T bao gồm:

    • Hóa đơn ngày 20/01/2022: 48.948.000 đồng;
    • Hóa đơn ngày 10/12/2022: 8.668.000 đồng;
    • Hóa đơn ngày 01/6/2023: 7.264.000 đồng.
    • Hóa đơn ngày 15/7/2023: 2.744.000 đồng.
    • Hóa đơn ngày 16/7/2023: 2.761.000 đồng;

    Các hóa đơn này là của cửa hàng do bà T làm chủ, tổng số tiền trong các hóa đơn này là 70.386.000 đồng, bà T chưa trả tiền cho bà.

    Bà T cho rằng đã nhiều lần chuyển khoản cho bà L qua số tài khoản 070102662480, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, để thanh toán tiền mua bán chanh trong khoảng thời gian từ ngày 20/12/2022 đến ngày 07/9/2023.

    Cụ thể:

    • - Ngày 16/11/2022: 30.000.000 đồng.
    • - Ngày 30/11/2022: 10.000.000 đồng.
    • - Ngày 20/12/2022: 30.000.000 đồng.
    • - Ngày 30/12/2022: 20.000.000 đồng.
    • - Ngày 19/05/2023: 10.000.000 đồng.
    • - Ngày 07/8/2023: 10.000.000 đồng.
    • - Ngày 07/9/2023: 10.000.000 đồng.

    Tổng số tiền bà đã chuyển 120.000.000 đồng là dư so với số tiền nợ bà L khởi kiện.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T trình bày đã trả như sau:

    • Hóa đơn ngày 20/01/2022: 48.948.000 đồng, bà T đã chuyển khoản trả vào ngày 30/12/2022: 20.000.000 đồng, ngày 20/01/2023: 29.000.000 đồng.
    • Hóa đơn ngày 10/12/2022: 8.668.000 đồng, bà T trả tiền mặt cho bà L.
    • Hóa đơn ngày 01/6/2023: 7.264.000 đồng; Hóa đơn ngày 15/7/2023: 2.744.000 đồng; Hóa đơn ngày 16/7/2023: 2.761.000 đồng; Bà T đã chuyển trả 2.975.000 đồng vào ngày 15/7/2023 và 10.000.000 đồng vào ngày 07/8/2023.

    Tuy nhiên, theo kết quả sao kê của Ngân hàng thể hiện các ngày bà T chuyển tiền và số tiền bà T chuyển tiền cho bà L là không trùng khớp với số tiền nợ theo các hóa đơn bà L khởi kiện. Cụ thể, các ngày 20/12/2022; 30/12/2022; 20/01/2023, bà T chuyển khoản vào tài khoản của bà L nhưng không ghi rõ nội dung giao dịch, ngày 15/02/2023 thì ghi rõ chuyển khoản cho tờ hóa đơn ngày 14/02, ngày 19/02/2023 thì ghi chuyển cho tờ hóa đơn ngày 18/02, tương tự ngày 21/02/2023 chuyển cho tờ hóa đơn 19/02, ngày 15/7/2023 chuyển cho tờ hóa đơn ngày 14/7. Bà T cho rằng đã trả tiền đầy đủ cho ông K và bà L đối với các hóa đơn bà L khởi kiện nhưng không có chứng cứ gì chứng minh, do đó lời trình bày của bà T không có căn cứ chấp nhận.

    Xét thấy, bà L và ông K đã giao đủ hàng cho bà T và ông T2 chưa thanh toán đầy đủ tiền hàng là đã vi phạm Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu bà T và ông T2 trả số tiền còn nợ là có căn cứ.

    [4.3] Về lãi suất: Bà L yêu cầu trả số tiền lãi của số nợ gốc là 70.386.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 08/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm. Xét thấy, thời gian yêu cầu tính lãi và mức lãi suất mà bà L yêu cầu là phù hợp với khoản 1 Điều 440 và Điều 357 Bộ luật Dân sự. Do đó, số tiền lãi bà T có nghĩa vụ thanh toán là: 70.386.000 đồng x 0,83%/tháng x 06 tháng 08 ngày = 3.661.010,48 đồng.

    [4.4] Về trách nhiệm trả nợ: Bà T và ông T2 cho rằng giao dịch mua bán chanh cũng như khoản nợ là xuất phát từ việc làm ăn riêng của bà T, không liên quan đến ông T2. Xét thấy, bà T và ông T2 là vợ chồng. Ông T2 và bà T có 03 người con chung, trong đó có 01 người con chưa thành niên. Khoản tiền nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T và ông T2 đang còn tồn tại. Bà T và ông T2 lấy lý do bà T kinh doanh mua bán chanh là để chi tiêu cá nhân bà T là không có căn cứ. Do đó, căn cứ Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình buộc ông T2 và bà T có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà L.

  7. [5] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị T.
  8. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  9. [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Hà Thị T không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 289, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Trần Văn T2.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hà Thị T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 288, 351, 352, 357, 430, 432, 433, 440 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim L đối với bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2.
  2. Buộc bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị Kim L số tiền 74.047.010 đồng.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, bên có nghĩa vụ thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Buộc bà Hà Thị T và ông Trần Văn T2 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.702.350 đồng sung quỹ Nhà nước.

    H1 lại cho bà Phạm Thị Kim L số tiền tạm ứng án phí 2.059.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006913 ngày 22/01/2024 và 0007435 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  6. Ông Trần Văn T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007547 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

    Bà Hà Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007544 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Bến Lức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 478/2024/DS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 478/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger