Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 478/2025/DS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân

Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế

Ông Trương Thanh Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 378/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 429/2025/QĐXX-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Hồ Cẩm L, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Số E đường A, khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, nay là phường L, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Bị đơn: 1. Bà Lương Thị Cẩm N, sinh năm 1987 (có mặt);
  • 2. Ông Lê Tâm H, sinh năm 1985 (có mặt);
  • Cùng địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường L, Khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau, nay là số C, đường L, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Bà Lương Thị Cẩm N, ông Lê Tâm H – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn trình bày:

Do là đồng nghiệp cũ tại ngân hàng P1, từ năm 2021, bà Hồ Cẩm L có cho bà Lương Thị Cẩm N và chồng là ông Lê Tâm H vay tiền để bà N cho khách hàng vay đáo hạn ngân hàng nhiều lần. Việc vay tiền thông qua gọi điện thoại hoặc nhắn tin báo số tiền vay và số tài khoản nhận tiền, không có làm biên nhận, chỉ trao đổi và xác nhận qua tin nhắn. Tính đến ngày 21/4/2022, bà N và ông H còn nợ tổng số tiền gốc là 4.250.000.000 đồng và 2.740.000.000 đồng tiền lãi, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 27/6/2021, bà N nhắn tin zalo hỏi vay 550.000.000 đồng. Ngày 28/6/2021 bà L chuyển khoản vào tài khoản của bà N số tiền 550.000.000 đồng. Ngày 14/7/2021, bà N có chuyển trả 30.000.000 đồng. Đến ngày 16/7/2021, bà L chuyển khoản vào tài khoản bà N số tiền 350.000.000 đồng. Tổng cộng đã chuyển số tiền là 850.000.000 đồng. Bà N tự tính lãi 0,15%/ngày và ngày 20/7/2021 chuyển trả cho bà L 220.460.000 đồng; trong đó, trả gốc 200.000.000 đồng, lãi 20.460.000 đồng và xác nhận còn thiếu tiền gốc 670.000.000 đồng. Đến ngày 16/8/2021, bà N có chuyển trả thêm 270.000.000 đồng tiền gốc và xác nhận còn thiếu 400.000.000 đồng. Ngày 17/8/2021, bà N trả tiếp 9.700.000đ tiền lãi. Ngày 23/3/2022, bà N trả 50.000.000 đồng tiền gốc và xác nhận còn nợ tiền gốc 350.000.000 đồng. Như vậy, bà N đã trả được 550.000.000 đồng tiền gốc và 30.160.000 đồng tiền lãi, còn thiếu 350.000.000 đồng tiền gốc. Tiền lãi đối với khoản vay này sau khi điều chỉnh lãi theo quy định như sau: Lãi từ ngày 28/6/2021 đến 13/7/2021 là 16 ngày x 1,66%/tháng x 550.000.000 đồng = 4.869.000 đồng. Từ ngày 13/7/2021 đến 16/7/2021 là 03 ngày không tính lãi. Từ ngày 16/7/2021 đến 20/7/2021 là 04 ngày x 1,66%/tháng x 870.000.000 đồng = 1.925.000 đồng. Từ ngày 20/7/2021 đến ngày 16/8/2021 là 27 ngày x 1,66%/tháng x 670.000.000 đồng = 10.000.000 đồng. Từ ngày 16/8/2021 đến ngày 23/3/2022 là 07 tháng 07 ngày, tính tròn 06 tháng x 1,66%/tháng x 400.000.000 đồng = 39.840.000 đồng. Từ ngày 23/3/2022 đến ngày xét xử 21/8/2025, tính làm tròn 40 tháng x 1,66%/tháng x 350.000.000 đồng = 232.400.000 đồng. Tổng cộng lãi là 289.338.000 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 04/4/2022, bà N nhắn tin zalo mượn bà 1.600.000.000 đồng và cung cấp số tài khoản người nhận là chồng bà N tên Lê Tâm H. Ngày 06/4/2022, bà L chuyển khoản vào tài khoản của ông H mở tại Ngân hàng T1 04 lần với tổng số tiền 1.600.000.000 đồng. Ngày 19/4/2022, bà N có chuyển trả lãi số tiền 12.600.000 đồng. Ngày 26/4/2022, bà N chuyển trả lãi tiếp số tiền 31.500.000 đồng. Ngày 04/5/2022, bà N chuyển trả tiền gốc 200.000.000 đồng và 4.500.000 đồng tiền lãi (có xác nhận 27/4/2022: 01 tỷ và 20/4/2022: 400 triệu). Như vậy, bà N đã trả được 200.000.000 đồng tiền gốc và 48.600.000 đồng tiền lãi, còn nợ 1.400.000.000 đồng tiền gốc. Tiền lãi phát sinh sau khi điều chỉnh lãi theo quy định như sau: Từ ngày 06/4/2022 đến ngày 04/5/2022 là 28 ngày x 1,66%/tháng x 1.600.000.000 đồng = 24.789.000 đồng. Từ ngày 04/5/2022 đến ngày xét xử 21/8/2025 là tính trong 39 tháng x 1,66% x 1.400.000.000 đồng = 906.360.000 đồng. Tổng cộng lãi là 931.149.000 đồng.
  • - Lần 3: Ngày 19/4/2022, bà N nhắn tin zalo hỏi vay 2.500.000.000 đồng. Ngày 21/4/2022, bà N có nhắn tin zalo số tài khoản người nhận tiền là 8889998999999 tại Ngân hàng P1 tên Trần Vũ K. Bà L chuyển từ tài khoản tại ngân hàng P1 vào tài khoản trên số tiền 2.400.000.000 đồng và từ tài khoản tại Ngân hàng M vào tài khoản trên số tiền 100.000.000 đồng. Tổng cộng là 2.500.000.000 đồng, bà N có xác nhận bằng tin nhắn với bà L. Ngày 09/5/2022, bà N có thông báo chuyển lãi 03 lần tổng số tiền 52.500.000 đồng (gồm từ tài khoản tên Lê Đoàn T số tiền 20.000.000 đồng, từ tài khoản tên Lương Văn P số tiền 10.000.000 đồng và từ tài khoản của bà N số tiền 22.500.000 đồng). Khoản vay này bà N còn thiếu 2.500.000.000 đồng tiền gốc và lãi từ ngày vay 21/4/2022 đến ngày 21/8/2025 là 40 tháng x 1,66%/tháng x 2.500.000.000 đồng = 1.660.000.000 đồng.

Như vậy, tổng lãi của 03 khoản vay là 289.338.000 đồng + 931.149.000 đồng + 1.660.000.000 đồng = 2.880.487.000 đồng; đối trừ với phần tiền lãi bà N đã trả 30.160.000 đồng + 48.600.000 đồng + 52.500.000 đồng = 131.260.000 đồng; tiền lãi còn nợ là 2.749.227.000 đồng, tính tròn là 2.740.000.000 đồng. Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà N và ông H trả số tiền 6.990.000.000 đồng, trong đó nợ gốc là 4.250.000.000 đồng và lãi 2.740.000.000 đồng.

Theo bị đơn Lương Thị Cẩm N trình bày:

Bà N và bà L từng là đồng nghiệp tại ngân hàng. Năm 2018, bà L nghỉ làm ngân hàng ra kinh doanh cho vay cầm cố nhà đất và chuyên cho vay đáo hạn với lãi suất cao nếu ai có nhu cầu ở khu vực Cà Mau. Khoảng năm 2019, bà L chủ động nói có cho vay tiền bên ngoài theo dạng đáo hạn ngân hàng, nếu có khách hàng vay đáo hạn thì giới thiệu cho bà L. Vì chỗ quen biết nên bà N có nhiều lần giới thiệu cho bà L (không nhớ rõ bao nhiêu lần) làm đáo hạn với khách hàng vay. Bà N chỉ là người giới thiệu khách hàng có nhu cầu, còn bà L và khách hàng tự thỏa thuận số tiền vay, tiền lãi chứ bà N không có tham gia. Mỗi lần bà N giới thiệu, bà L có cho tiền hoa hồng.

Khoảng tháng 6/2021, bà Trần Thúy A hỏi bà vay 1.630.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng. Bà N có giới thiệu để bà L cho bà A vay 400.000.000 đồng (số tiền còn lại của bà N cho vay). Khi biết bị bà A lừa, không sử dụng tiền vay mượn của bà và của bà L vào mục đích đáo hạn, bà L kêu bà N đứng ra khởi kiện bà A. Tại Bản án số: 329/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của TAND thành phố Cà Mau tuyên buộc bà A có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 1.364.200.000 đồng. Khi xảy ra rủi ro từ bà A, bà N có vay mượn của người thân, bạn bè được số tiền 50.000.000 đồng đưa cho bà L xoay sở. Trong thời gian đó, bà N vẫn giới thiệu cho bà L rất nhiều khách hàng. Bà L nói nếu có khách hàng ở xa không thể gặp để thỏa thuận được thì sẽ chuyển khoản vô số tài khoản của ông Lê Tâm H, để bà N sử dụng tài khoản của ông H chuyển qua cho khách hàng vay. Mỗi lần nhận tiền của bà L, bà N đều chuyển đến cho khách hàng theo yêu cầu của bà L. Bà L nhận tiền lãi đều đặn của khách hàng vay, không có ý kiến gì. Bà N1 không có ký giấy nhận nợ nào đối với bà L từ năm 2020 đến năm 2023.

Theo bị đơn ông Lê Tâm H trình bày:

Ông H là chồng của bà Lương Thị Cẩm N, theo đơn khởi kiện của bà Hồ Cẩm L, ông không biết và cũng không liên quan việc qua lại tiền bạc giữa bà N và bà L. Ông H không biết và không đồng ý nội dung của đơn kiện buộc trả 6.150.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau; áp dụng các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Cẩm L. Buộc bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H trả cho bà Hồ Cẩm L số tiền 6.990.000.000 đồng, trong đó tiền gốc là 4.250.000.000 đồng, tiền lãi là 2.740.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/9/2025, bị đơn bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H có đơn kháng cáo, cho rằng quá trình giải quyết vụ án vi phạm thủ tục tố tụng, do không được thông báo, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm; nội dung bản án chưa khách quan, vì không có hợp đồng vay tiền, không xem xét chứng cứ đã cung cấp. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị hủy án sơ thẩm. Lý do, cấp sơ thẩm không thông báo, triệu tập bị đơn tham gia xét xử. Án sơ thẩm xét xử không khách quan, buộc bị đơn trả nợ cho nguyên đơn là không đúng. Vì bà N không vay mượn tiền của bà L, không có hợp đồng vay, thỏa thuận lãi, thời hạn vay, không chiếm giữ, sử dụng tiền mà dòng tiền là tiền giao dịch đáo hạn với các khách hàng. Ông H thừa nhận bà L có chuyển tiền vào tài khoản của ông nhưng việc sử dụng tiền chuyển cho khách hàng là do bà N vợ ông thực hiện, ông không biết, không liên quan đến giao dịch tiền giữa bà L với bà N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lương Thị Cẩm N, ông Lê Tâm H; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 66/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Bà Hồ Cẩm L khởi kiện yêu cầu bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H cùng có nghĩa vụ trả số tiền 6.990.000.000 đồng (gồm 4.250.000.000 đồng tiền gốc, 2.740.000.000 đồng tiền lãi phát sinh từ ba khoản vay trong năm 2021 và 2022). Bà L cho rằng giữa hai bên có thỏa thuận vay tiền để bà N cho khách hàng vay đáo hạn ngân hàng, việc giao nhận tiền được thực hiện qua chuyển khoản ngân hàng và xác nhận bằng tin nhắn zalo, không lập biên nhận. Bị đơn bà Lương Thị Cẩm N không đồng ý, cho rằng mình chỉ là người giới thiệu khách hàng vay, không vay tiền của bà L. Ông Lê Tâm H cho rằng không biết, không liên quan và không đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ.

[2] Xét kháng cáo của bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H, thấy rằng: Tại hồ sơ có các sao kê chuyển tiền của các ngân hàng P1, M1, A1; nội dung tin nhắn Zalo giữa bà L và bà N về việc hỏi vay, nhận tiền, trả lãi và xác nhận còn nợ; lời trình bày của ông Trần Vũ K chủ tài khoản nhận 2,5 tỷ đồng do bà L chuyển vào tài khoản xác định ông vay tiền của bà N, không vay của bà L. Bà L chuyển tiền vào tài khoản của ông là theo yêu cầu của bà N. Đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa bà L và bà N có thỏa thuận thực hiện giao dịch vay tiền nhiều lần, tổng cộng ba khoản vay còn nợ tiền gốc là 4.250.000.000 đồng, phù hợp với lời trình bày của bà L và nhận định của bản án sơ thẩm. Bà N cho rằng chỉ là người giới thiệu khách hàng có nhu cầu, còn bà L và khách hàng tự thỏa thuận số tiền vay, tiền lãi chứ bà không có tham gia. Giai đoạn phúc thẩm bà N cung cấp các đoạn tin nhắn Zalo, SMS giữa bà N với bà L, ông K, bà A; sao kê M1 tài khoản đứng tên Lê Tâm H, Lương Thị Cẩm N, đơn trình bày bổ sung. Các tài liệu này chủ yếu liên quan đến hoạt động giao dịch tiền giữa bà N với các cá nhân khác. Cụ thể, quan hệ giữa bà N với ông K các đoạn chat và sao kê thể hiện ông K giao dịch vay nhận tiền với bà N, không phải bà L, phù hợp với lời khai của ông K. Không có tài liệu, chứng cứ nào trong tài liệu cho thấy người vay là người khác, bà N là trung gian, quan hệ vay giữa N và L là không tồn tại. Ngược lại các tin nhắn còn thể hiện bà N là người đứng ra xoay tiền cho khách hàng vay, phù hợp lời khai của bà L. Sao kê cho thấy tài khoản đứng tên ông H do bà N sử dụng thường xuyên trong các giao dịch vay, trả tiền, phù hợp với nhận định của án sơ thẩm về nghĩa vụ liên đới. Như vậy, các tài liệu, chứng cứ do bà N cung cấp tại cấp phúc thẩm không làm phát sinh được tình tiết, chứng cứ nào mới, không làm thay đổi bản chất tranh chấp giữa bà L với bà N, ông H; không chứng minh được có việc ủy quyền hoặc thỏa thuận trực tiếp trong giao dịch vay, xác nhận nợ, chuyển trả lãi giữa bà L, bà N với các khách hàng nên chỉ có đủ cơ sở xác định bà N là người đứng ra vay tiền của bà L để cho các khách hàng khác vay đáo hạn ngân hàng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định giữa các bên tồn tại quan hệ vay tài sản là có căn cứ, phù hợp thực tế và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét quá trình giao dịch, một phần tiền vay được chuyển vào tài khoản mang tên ông Lê Tâm H, là chồng của bà N. Ông H cho rằng không liên quan đến việc vay tiền, nhưng biết rõ các khoản tiền chuyển vào tài khoản và được bà N sử dụng tài khoản để giao dịch với người khác nhiều lần. Điều này cho thấy ông H thống nhất để bà N sử dụng tài khoản ngân hàng của mình giao dịch với những người khác trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H cùng bà N chịu trách nhiệm liên đới thanh toán là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Xét các khoản lãi trong 03 lần vay bà Hồ Cẩm L xác định có thỏa thuận lãi suất 0,15%/ngày. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất về 1,66%/tháng (tương đương 20%/năm) và tính lãi theo dư nợ gốc còn lại qua từng thời kỳ là phù hợp quy định pháp luật và có lợi cho bị đơn. Tổng cộng cả ba khoản vay, sau khi đối trừ phần lãi bị đơn đã trả, tiền lãi còn nợ là 2.740.000.000 đồng, phù hợp với cách tính của nguyên đơn và quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Cẩm L buộc bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H liên đới trả 6.990.000.000 đồng (trong đó 4.250.000.000 đồng tiền gốc và 2.740.000.000 đồng tiền lãi) là có căn cứ, đúng quy định.

[5] Đối với kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo, không triệu tập hợp lệ để bị đơn tham gia phiên tòa, xét thấy: Trong hồ sơ vụ án thể hiện Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau đã tống đạt hợp lệ cho bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H các văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thể hiện bằng các thủ tục niêm yết hoặc tống đạt trực tiếp. Bị đơn cho rằng không được triệu tập hợp lệ là không có cơ sở.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, ông H; giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa anh nhân dân khu vực 1 – Cà Mau như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa.

[7] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà N, ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
    Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 66/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
  2. Căn cứ các Điều 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Cẩm L. Buộc bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H trả cho bà Hồ Cẩm L số tiền 6.990.000.000 đồng (sáu tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng), trong đó tiền gốc là 4.250.000.000 đồng và tiền lãi là 2.740.000.000 đồng.
    Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án, bà N và ông H không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
  3. Căn cứ các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N và ông H phải chịu số tiền là 114.990.000 đồng. Bà L không phải chịu nên được nhận lại số tiền dự nộp là 57.075.000 đồng tại Biên lai số 0009682 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lương Thị Cẩm N và ông Lê Tâm H mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 04/9/2025 bà N, ông H mỗi người có dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại các Biên lai thu số 0000185 và 0000184 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND khu vực 1 - Cà Mau;
  • - TAND khu vực 1 - Cà Mau;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM: TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trọng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 478/2025/DS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 478/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger