TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 478/2024/DS-ST
Ngày: 10-12-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Rạt
- Ông Nguyễn Chí Lin
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 345/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 609/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vương Xuân L, sinh năm 1988
Địa chỉ: số E, Đại lộ B, phường H, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L: Ông Phạm Hoàng D, sinh năm 1992 (Văn bản uỷ quyền ngày 24/10/2024).
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Đặng Hoàn M thuộc Công ty L3 (có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân L1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L1: bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1997 (Văn bản uỷ quyền ngày 02/7/2024).
Địa chỉ: Tổ H, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Bà Trần Thị Ngọc D1, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trương Hữu D2, sinh năm 1987
Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông D2: bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1997 (Văn bản uỷ quyền ngày 02/7/2024).
Địa chỉ: Tổ H, thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Ông Võ Văn B, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số E, Đại lộ B, phường H, Thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày ngày 08/3/2024, ngày 27/3/2024 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Phạm Hoàng D đại diện cho Vương Xuân L trình bày như sau:
Bà L với bà Trần Thị Ngọc D1 góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một phần thửa số 204, tờ bản đồ số 21 (nay là thửa số 745, tờ bản đồ số 16) diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m, loại đất ONT đất tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An của bà Nguyễn Thị Xuân L1 với giá chuyển nhượng là 2.600.000.000 đồng. Ngày 19/01/2022 bà D1 thay mặt bà L ký với bà L1 “giấy nhận tiền cọc sang nhượng đất” và đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng, thỏa thuận đến ngày 19/04/2022 tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trả đủ số tiền chuyển nhượng. Đến ngày hai bên cam kết thực hiện việc chuyển nhượng nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L1 đang thế chấp ở Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh S – Phòng G để vay tiền nên 02 bên tiếp tục thỏa thuận lại “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 và ngày 11/5/2022 bà L đã chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng cho bà L1 để xóa thế chấp ở Ngân hàng, lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về cấp đổi và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L, bà D1 cũng tiếp tục chuyển cho bà L1 số tiền 500.000.000 đồng. Trong suốt 02 năm qua bà L và bà D1 nhiều lần liên hệ với bà L1 và ông Trương Hữu D2 là con bà L1 nhưng bà L1 và ông D2 cố tình phớt lờ, không thực hiện việc chuyển nhượng. Ngày 26/01/2024 bà L và bà D1 có thông báo cho bà L1 biết thời gian hai bên tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào lúc 09 giờ ngày 29/01/2024 tại Văn phòng C, địa chỉ số G ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nhưng bà L1 vẫn không đến mà có con bà L1 là ông D2 đến. Nay bà L khởi kiện yêu cầu Hủy một phần Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc giữa bà L1 với bà D1 ngày 19/01/2022 liên quan đến phần đặt cọc của bà L; yêu cầu bà L1 trả lại cho bà L số tiền 1.600.000.000 đồng. Đối với tiền lãi yêu cầu 0,83%/tháng tính từ ngày 11/10/2022 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày 27/3/2024 là 230.256.000 đồng thì bà L rút lại yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu trả lại số tiền cọc 1.600.000.000đ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuân L1 do bà Ngô Thị Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 19/01/2022, bà L1 có thỏa thuận đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 405 m² (chiều ngang 15m, chiều dài 27m) thuộc một phần của thửa đất số 204, tờ bản đồ số 21 (nay là thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16) tọa lạc tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho bà D1, giá chuyển nhượng là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng). Toàn bộ thửa đất này bà L1 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/6/2009.
Theo đó, các bên (gồm bà L1 và bà D1) đã lập Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc có ghi nội dung bà D1 đặt cọc cho bà L1 số tiền 500.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 405m² nêu trên. Đồng thời, cũng chuyển cho bà L1 thêm 100.000.000 đồng để trả cho người môi giới việc nhận chuyển nhượng này.
Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, thửa đất số 745 đang được bà L1 thế chấp tại Ngân hàng K nên giữa bà L1 và bà D1 cũng thỏa thuận rằng bà D1 sẽ cùng với bà L1 đến Ngân hàng để giải chấp, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau đó tiến hành thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng mẫu quy định hiện hành để có cơ sở cho các bên thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 11/5/2022, bà D1 có cùng bà L1 đến Ngân hàng đưa cho bà L1 số tiền 1.000.000.000 đồng để gửi vào Ngân hàng làm thủ tục giải chấp, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giữa bà L1 và bà D1 có thỏa thuận đợi làm xong thủ tục cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật hiện hành thì các bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc, bà L1 và bà D1 có thỏa thuận rằng chi phí làm thủ tục này do cả bà L1 và bà D1 cùng chịu trách nhiệm, trong đó bà L1 chịu 20.000.000 đồng, bà D1 chịu 15.000.000 đồng. Bà L1 cũng đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà D1 giữ để nhờ người làm giúp thủ tục cấp đổi sổ. Trong thời gian đó, bà D1 có chuyển thêm cho bà L1 số tiền là 400.000.000 đồng, tổng số tiền bà L1 đã nhận của bà D1 qua 03 lần là 2.000.000.000 đồng.
Ngày 11/10/2022, bà D1 có đưa bà L đến nhà bà L1 và nói rằng toàn bộ phần đất mà bà D1 có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà L1 theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ký ngày 19/01/2022 có một phần tiền là của bà L góp vào để cùng đứng tên đồng sở hữu nhận chuyển nhượng đất của bà L1. Lúc bấy giờ, phía bà D1 và bà L cũng nói rõ việc chuyển nhượng đất đã thỏa thuận trước đây vẫn tiếp tục, không có thay đổi gì và đề nghị bà L1 xác nhận nội dung này bằng văn bản.
Một thời gian sau, bà L có đến gặp bà L1 và yêu cầu bà L1 làm thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tách thửa riêng cho bà L với diện tích chiều ngang 10m, chiều dài 27m để bà L đứng tên riêng. Tuy nhiên, trước yêu cầu này thì bà D1 không đồng ý, bà D1 yêu cầu đứng tên đồng sở hữu với bà L trên hồ sơ nhận chuyển nhượng.
Do ngay từ đầu chỉ có bà L1 và bà D1 thỏa thuận với nhau về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ký Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, bà D1 cũng không đề cập với bà L1 về việc bà L có đóng góp tiền vào việc nhận chuyển nhượng này, nên khi bà D1 và bà L bất đồng ý kiến như trên thì bà L1 cũng đã yêu cầu bà D1 trong lúc chờ kết quả nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới thì bà D1 cần giải quyết các bất đồng ý kiến giữa bà D1 với bà L, nhanh chóng có phương án thỏa thuận cụ thể để các bên có thể ký hợp đồng chuyển nhượng, bà D1 đồng ý.
Vì đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D1 làm thủ tục cấp đổi đã nhiều tháng mà không thấy tiến triển gì nên bà L1 yêu cầu bà D1 đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 tự làm. Lúc bấy giờ, bà L1 đã nhờ ông Mai Công B1 tiến hành làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng tháng 11/2023, ông B1 có thông báo cho bà L1 rằng thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hoàn thành, yêu cầu bà L1 giao đủ số tiền còn lại (khoảng 20.000.000 đồng) để ông B1 có điều kiện nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới về cho bà L1. Lúc này, bà L1 có báo cho bà D1, yêu cầu bà D1 giao phần tiền còn lại (khoảng 10.000.000 đồng) để cùng bà L1 trả cho ông B1 như đã thỏa thuận. Lúc bấy giờ, bà D1 nói rằng không có tiền và cũng không còn đủ khả năng tài chính để tiến hành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà L1 nữa.
Ngày 29/01/2024, ông Trương Hữu D2 (con trai của bà L1) có đại diện bà L1 đến Văn phòng công chứng Nguyễn Văn L2. Tại đây, ông D2 đã thay mặt bà L1 nói rõ với bà L và bà D1 rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới chưa nhận về được (mặc dù bà D1 biết rõ chuyện này), cũng đã yêu cầu bà D1 đưa tiền như đã thỏa thuận để giao cho ông B1, lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về để các bên cùng ra ký hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, bà L và bà D1 vẫn khăng khăng đòi ký hợp đồng ngay tại thời điểm đó.
Khoảng giữa tháng 3/2024, bà L1 phải tự vay tiền để đưa cho ông B1 nhờ nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang về. Cũng đã thông báo yêu cầu bà D1, bà L thống nhất việc đứng tên trên hồ sơ chuyển nhượng để cùng nhau ra ký hợp đồng. Lúc này, phía bà D1 cũng tiếp tục nói rằng không đủ tài chính và không muốn tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng.
Trong thời gian này, trong quá trình tìm hiểu về thủ tục chuyển nhượng đất, bà L1 được biết diện tích đất 405m² mà bà D1 thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà L1 trong tổng số diện tích đất 576m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16 không đủ điều kiện tách thửa để chuyển nhượng theo quy định được. Dẫn đến việc không đủ điều kiện để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng như thỏa thuận giữa bà L1 và bà D1 tại Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc được các bên giao kết vào ngày 19/01/2022.
Việc không thể ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 405m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16 theo đúng thỏa thuận là điều bà L1 không lường trước được và bản thân bà L1 cũng không đủ khả năng và hiểu biết để nhận biết được việc có tách thửa được đối với diện tích đất này hay không. Do đó, căn cứ diễn biến quá trình thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên như trên, bà L1 đồng ý vô hiệu đối với giao dịch ký giữa bà L1 và bà D1 theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc vào ngày 19/01/2022, bà L1 đồng ý trả lại cho bà L 1.600.000.000đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Trần Thị Ngọc D1 trình bày theo đơn yêu cầu độc lập như sau:
Bà với bà L hùn tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà L1 đối với một phần thửa số 204, tờ bản đồ số 21 (nay là thửa số 745, tờ bản đồ số 16) diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m, loại đất ONT đất tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với giá chuyển nhượng là 2.600.000.000 đồng, ngày 19/01/2022 bà ký với bà L1 “giấy nhận tiền cọc sang nhượng đất” và đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng hẹn đến ngày 19/4/2022 sẽ giao số tiền 2.100.000.000 đồng còn lại, sau đó bà L đưa thêm cho bà L1 số tiền 1.500.000.000 đồng, ngày 11/10/2022 bà L1 ký xác nhận đã nhận 2.000.000.000 đồng, trong đó số tiền của L là 1.600.000.000 đồng, tiền của bà là 400.000.000 đồng. Việc mua bán không thành do diện tích đất còn lại trong giấy chứng nhận không đủ diện tích tách thửa theo quy định, hai bên thỏa thuận chuyển nhượng hết thửa nhưng bà L1 yêu cầu giá quá cao nên không thể tiếp tục thực hiện. Nay bà có yêu cầu độc lập là vô hiệu Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc giữa bà D1 với bà L1 ngày 19/01/2022; yêu cầu bà L1 trả lại cho bà số tiền 400.000.000 đồng và lãi suất lãi 0,83%/tháng tính từ ngày 11/10/2022 đến ngày xét xử.
Bà Đ đại diện cho nguyên đơn trình bày: Bà L1 đồng ý vô hiệu hợp đồng đặt cọc theo yêu cầu của bà D1, đồng ý trả lại cho bà D1 400.000.000đ, không đồng ý trả tiền lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Hữu D2 do bà Ngô Thị Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông D2 là con của bà L1, hiện đang sinh sống cùng với bà L1, ngày 19/01/2022 bà L1 có thỏa thuận đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 405m² (chiều ngang 15m, chiều dài 27m) thuộc một phần thửa số 204, tờ bản đồ số 21 (nay là thửa số 745, tờ bản đồ số 16) đất tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cho bà D1 với giá chuyển nhượng là 2.600.000.000 đồng, bà D1 đặt cọc cho bà L1 số tiền 500.000.000 đồng.
Ngày 11/5/2022, bà D1 có cùng bà L1 đến Ngân hàng K1 đưa cho bà L1 số tiền 1.000.000.000 đồng để gửi vào Ngân hàng làm thủ tục giải chấp, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giữa bà L1 và bà D1 có thỏa thuận đợi làm xong thủ tục cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật hiện hành thì các bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc, bà L1 và bà D1 có thỏa thuận rằng chi phí làm thủ tục này do cả bà L1 và bà D1 cùng chịu trách nhiệm, trong đó bà L1 chịu 20.000.000 đồng, bà D1 chịu 15.000.000 đồng. Bà L1 cũng đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà D1 giữ để nhờ người làm giúp thủ tục cấp đổi sổ.
Ngày 11/10/2022, bà D1 có đưa bà L đến nhà bà L1 và nói rằng toàn bộ phần đất mà bà D1 có thỏa thuận nhận chuyển nhượng của bà L1 theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ký ngày 19/01/2022 có một phần tiền là của bà L góp vào để cùng đứng tên đồng sở hữu nhận chuyển nhượng đất của bà L1. Lúc bấy giờ, phía bà D1 và bà L cũng nói rõ việc chuyển nhượng đất đã thỏa thuận trước đây vẫn tiếp tục, không có thay đổi gì và đề nghị bà L1 xác nhận nội dung này bằng văn bản.
Một thời gian sau, bà L có đến gặp bà L1 và yêu cầu bà L1 làm thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tách thửa riêng cho bà L với diện tích chiều ngang 10m, chiều dài 27m để bà L đứng tên riêng. Tuy nhiên, trước yêu cầu này thì bà D1 không đồng ý, bà D1 yêu cầu đứng tên đồng sở hữu với bà L trên hồ sơ nhận chuyển nhượng.
Do ngay từ đầu chỉ có bà L1 và bà D1 thỏa thuận với nhau về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ký Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, bà D1 cũng không đề cập với bà L1 về việc bà L có đóng góp tiền vào việc nhận chuyển nhượng này, nên khi bà D1 và bà L bất đồng ý kiến như trên thì bà L1 cũng đã yêu cầu bà D1 trong lúc chờ kết quả nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới thì bà D1 cần giải quyết các bất đồng ý kiến giữa bà D1 với bà L, nhanh chóng có phương án thỏa thuận cụ thể để các bên có thể ký hợp đồng chuyển nhượng, bà D1 đồng ý.
Vì đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D1 làm thủ tục cấp đổi đã nhiều tháng mà không thấy tiến triển gì nên bà L1 yêu cầu bà D1 đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L1 tự làm. Lúc bấy giờ, bà L1 đã nhờ ông Mai Công B1 (Sinh năm: 1981, Thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, số điện thoại: 0886.263.xxx) tiến hành làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng tháng 11/2023, ông B1 có thông báo cho bà L1 rằng thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hoàn thành, yêu cầu bà L1 giao đủ số tiền còn lại (khoảng 20.000.000 đồng) để ông có điều kiện nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới về cho bà L1. Lúc này, bà L1 có báo cho bà D1, yêu cầu bà D1 giao phần tiền còn lại (khoảng 10.000.000 đồng) để cùng bà L1 trả cho ông B1 như đã thỏa thuận. Lúc bấy giờ, bà D1 nói rằng không có tiền và cũng không còn đủ khả năng tài chính để tiến hành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà L1 nữa.
Ngày 29/01/2024, ông D2 đại diện bà L1 đến Văn phòng công chứng Nguyễn Văn L2. Tại đây, ông D2 đã thay mặt bà L1 nói rõ với bà L và bà D1 rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới chưa nhận về được (mặc dù bà D1 biết rõ chuyện này), cũng đã yêu cầu bà D1 đưa tiền như đã thỏa thuận để giao cho ông B1, lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về để các bên cùng ra ký hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, bà L và bà D1 vẫn khăng khăng đòi ký hợp đồng ngay tại thời điểm đó.
Khoảng giữa tháng 3/2024, bà L1 phải tự vay tiền để đưa cho ông B1 nhờ nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang về. Cũng đã thông báo yêu cầu bà D1, bà L thống nhất việc đứng tên trên hồ sơ chuyển nhượng để cùng nhau ra ký hợp đồng. Lúc này, phía bà D1 cũng tiếp tục nói rằng không đủ tài chính và không muốn tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng.
Trong thời gian này, trong quá trình tìm hiểu về thủ tục chuyển nhượng đất, bà L1 được biết diện tích đất 405m² mà bà D1 thỏa thuận nhận chuyển nhượng của tôi trong tổng số diện tích đất 576m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16 không đủ điều kiện tách thửa để chuyển nhượng theo quy định được. Dẫn đến việc không đủ điều kiện để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng như thỏa thuận giữa bà L1 và bà D1 tại Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc được các bên giao kết vào ngày 19/01/2022.
Việc không thể ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 405m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16 theo đúng thỏa thuận là điều bà L1 không lường trước được và bản thân bà L1 cũng không đủ khả năng và hiểu biết để nhận biết được việc có tách thửa được đối với diện tích đất này hay không. Đối với nội dung khởi kiện của bà L, ông D2 không có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đối với thỏa thuận giữa bà L1 với L hay bà D1 nên ông thống nhất với lời trình bày của bà L1, không có yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn B trình bày theo bản tự khai như sau:
Ông là chồng của bà L, ông yêu cầu giải quyết cho bà L là hủy một phần Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất đặt cọc giữa bà D1 với bà L1 ngày 19/01/2022. Yêu cầu bà L1 trả lại cho bà L 1.600.000.000đ, yêu cầu bà L1 trả cho bà L 230.256.000đ tiền lãi tính đến ngày 27/3/2024.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà L Luật sư Đặng Hoàn M trình bày như sau:
Bà Vương Xuân L và bà Trần Thị Ngọc D1 cùng nhau góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất của bà Nguyễn Thị Xuân L1, thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An với giá trị chuyển nhượng là 2.600.000.000 đồng.
Theo đó, ngày 19/01/2022, bà D1 đại diện bà L đã ký kết Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc với bà L1 và đặt cọc số tiền là 500.000.000 đồng.
Tại Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc, hai bên thỏa thuận rằng, ngày 19/04/2022 sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tại văn phòng C và thanh toán số tiền còn lại. Đến ngày hẹn công chứng, nếu bên bán không chịu chuyển nhượng thì phải bồi thường cho bên mua gấp 03 lần số tiền đã đặt cọc.
Ngày 11/05/2022, bà Liên tiếp T chuyển cho bà L1 số tiền là 1.000.000.000 đồng để bà L1 thực hiện xóa thế chấp và cập nhật sổ mới để tiến hành chuyển nhượng. Tiếp đó, bà D1 chuyển thêm cho bà L1 số tiền là 500.000.000 đồng để bà L1 nhận sổ mới và ra công chứng.
Tại văn bản ngày 11/10/2022, bà L1 đã ký xác nhận việc ông Trương Hữu D2 là con trai của bà L1 đã thay mặt bà đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (trong đó bao gồm 1.600.000.000 đồng từ bà L và 400.000.000 đồng từ bà D1).
Trong suốt 02 năm qua, bà L nhiều lần liên hệ và trao đổi nhưng phía bà L1 và ông D2 cố tình trốn tránh, phớt lờ việc đến văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc. Cũng trong thời gian này, bà L1 có tìm hiểu và biết được thông tin, thửa đất bà D1 và bà L thoả thuận nhận chuyển nhượng trên không đủ điều kiện chuyển nhượng tách thửa theo quy định. Lúc này, bà L1 đề xuất chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên mà không tách thửa, tuy nhiên giá chuyển nhượng bà L1 đề xuất quá cao, bà L và bà D1 không có đủ kinh phí để chi trả. Bà L và bà D1 đề nghị huỷ Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc nhưng bà L1 không đồng ý, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Do đó, ngày 26/01/2024, bà L đã gửi văn bản thông báo tới bà L1, yêu cầu bà L1 vào lúc 09 giờ 00 ngày 29/01/2024 tại Văn phòng C để thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên. Nếu bà L1 không đến Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải chịu phạt cọc 03 lần cho toàn bộ số mà bà L và bà D1 đã đặt cọc.
Vào lúc 09 giờ 00 ngày 29/01/2024, bà L và bà D1 có mặt tại Văn phòng C chờ nhưng bà L1 vẫn không xuất hiện. Sự việc này đã được Văn phòng T2 ghi nhận tại Vi bằng số 79/2024/VB-TPL ngày 29/01/2024 do Thừa Phát lại Lê Hữu T1 lập.
Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bà trình bày quan điểm như sau:
Bà Nguyễn Thị Xuân L1 đã vi phạm nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022
Tại Điều 5 Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022 có quy định: “Đến ngày hẹn công chứng nêu trên, nếu Bên B không đến văn phòng công chứng để tiến hàng thủ tục chuyển nhượng thì Bên A không trả lại số tiền đã cọc. Ngược lại, nếu Bên A không chịu chuyển nhượng thì sẽ phải bồi thường cho Bên B gấp 03 số tiền đã cọc”.
Căn cứ Điều 328 BLDS năm 2015 quy định trách nhiệm của các bên khi “từ chối” việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Theo đó, trong suốt 02 năm qua, bà L nhiều lần liên hệ và trao đổi nhưng phía bà L1 cố tình trốn tránh, phớt lờ việc đến văn phòng công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc.
Do đó, ngày 26/01/2024, bà L đã gửi văn bản thông báo tới bà L1, yêu cầu bà L1 vào lúc 09h00 ngày 29/01/2024 tại Văn phòng C để thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nếu trên. Nếu bà L1 không đến Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thì phải chịu phạt cọc 03 lần cho toàn bộ số tiền đã đặt cọc.
Vào lúc 09h00 ngày 29/01/2024, bà L có mặt tại Văn phòng C để chờ nhưng bà L1 vẫn không xuất hiện. Sự việc này đã được Văn phòng T2 ghi nhận tại Vi bằng số 79/2024/VB-TPL ngày 29/01/2024 do Thừa Phát lại Lê Hữu T1 lập.
Do đó, có thể thấy biểu hiện trên của bà L1 không tiến hành giao kết hợp đồng theo thoả thuận chính là “từ chối” giao kết hợp đồng, dẫn đến vi phạm nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022.
Như đã phân tích ở trên, bà L1 đã vi phạm nghiệm trọng nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, không tiến hành giao kết Hợp đồng chuyển nhượng theo thoả thuận.
Tại văn bản ngày 11/10/2022, bà L1 cũng đã ký xác nhận việc ông Trương Hữu D2 là con trai của bà L1 đã thay mặt bà đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng, trong đó bao gồm 1.600.000.000 đồng từ bà L và 400.000.000 đồng từ bà D1.
Theo đó, vì bà L1 đã vi phạm nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, nên bà L1 phải hoàn trả lại số tiền cọc đã nhận cho bà L.
Đồng thời, việc bà L1 vi phạm nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022 còn gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của bà L. Cụ thể, để có kinh phí thanh toán tiền chuyển nhượng thửa đất trên, bà L đã phải đi vay mượn khắp nơi với lãi suất rất cao. Trong khoảng thời gian 02 năm chờ đợi bà L1 thực hiện việc ký Hợp đồng chuyển nhượng, bà L đã phải gồng mình trả hàng chục tiền lãi mỗi tháng. Khi biết được thông tin thửa đất đang thoả thuận nhận chuyển nhượng không đủ điều kiện chuyển nhượng tách thửa theo quy định. Lúc này, bà L đã nghị huỷ Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022, hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc nhưng bà L1 không đồng ý, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/01/2024, bà L1 vẫn không xuất hiện, cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình theo thoả thuận trước đó, không hoàn trả số tiền đã đặt cọc dù bà L nhiều lần đề nghị. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 427 Bộ luật dân sự 2015, bà L1 có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho bà L với số tiền là 324.320.000 đồng do vi phạm nghĩa vụ trong Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc ngày 19/01/2022.
Từ những luận điểm nêu trên cho thấy, những yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và cơ sở để chấp nhận.
Vì vậy, bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng Điều 328, Điều 427 Bộ Luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên:
- Hủy một phần Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc giữa bà Trần Thị Ngọc D1 và bà Nguyễn Thị Xuân L1 ngày 19/01/2022 liên quan đến phần đặt cọc của bà Vương Xuân L;
- Buộc bà Nguyễn Thị Xuân L1 phải trả lại cho bà Vương Xuân L số tiền mà bà Vương Xuân L đã đặt cọc là 1.600.000.000 đồng. Đối với tiền lãi bà không yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L, vô hiệu một phần hợp đồng đặt cọc, buộc bà L1 trả cho bà L số tiền 1.600.000.000 đồng, đối với tiền lãi người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút lại yêu cầu trả tiền lãi nên đề nghị đình chỉ đối với yêu cầu này.
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà D1, vô hiệu một phần hợp đồng đặt cọc giữa bà D1 với bà L, buộc bà L1 trả cho bà D1 số tiền 400.000.000 đồng và không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà D1 đối với yêu cầu trả tiền lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thẩm quyền: Bà L khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc, bị đơn bà L1 có địa chỉ thường trú tại huyện Đ nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Bà D1, ông B có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà D1, ông B.
- [3] Xét yêu cầu của đương sự:
- [3.1] Bà L yêu cầu bà L1 trả lại cho bà L số tiền cọc đã nhận 1.600.000.000 đồng, Đối với tiền lãi yêu cầu 0,83%/tháng tính từ ngày 11/10/2022 đến ngày xét xử, tạm tính đến ngày 27/3/2024 là 230.256.000 đồng thì bà L rút lại yêu cầu trả tiền lãi.
- [3.2] Bà D1 yêu cầu bà L1 trả lại cho bà D1 số tiền 400.000.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng đối với số tiền 400.000.000 đồng tính từ ngày 11/10/2022 đến ngày xét xử ngày 10/12/2024, số tiền lãi là 86.666.000đ.
- [3.3] Bà L1 trình bày khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đổi về bà L1 đã thông báo yêu cầu bà D1, bà L thống nhất việc đứng tên trên hồ sơ chuyển nhượng để cùng nhau ra ký hợp đồng. Lúc này, phía bà D1 cũng tiếp tục nói rằng không đủ tài chính và không muốn tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng. Việc không đủ điều kiện tách thửa để chuyển nhượng theo quy định đối với diện tích đất 405m² thuộc thửa đất số 745, tờ bản đồ số 16 là điều bà L1 không lường trước được và bản thân bà L1 cũng không đủ khả năng và hiểu biết để nhận biết được việc có tách thửa được đối với diện tích đất này hay không. Do đó, căn cứ diễn biến quá trình thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên như trên, bà L1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L và yêu cầu độc lập của bà D1 và yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu đối với giao dịch ký giữa bà L1 với bà D1 theo Giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc vào ngày 19/01/2022.
- [3.4] Hội đồng xét xử nhận định:
- [3.4.1] “giấy nhận tiền cọc sang nhượng đất” ngày 19/01/2022 hai bên thỏa thuận đến ngày 19/04/2022 tiến hành công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trả đủ số tiền chuyển nhượng. Đến ngày hai bên cam kết thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L1 đang thế chấp ở Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh S – Phòng G để vay tiền nên 02 bên tiếp tục thỏa thuận lại và viết lại “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 với nội dung “...bên mua đưa thêm cho bên bán 1 tỷ chẵn (1.000.000.000đ) để xóa thế chấp ngân hàng đem về cấp đổi tách thửa theo diện tích đã bán và công chứng...”. Như vậy, xác định “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 là thỏa thuận thay thế cho “giấy nhận tiền cọc sang nhượng đất” ngày 19/01/2022 và những thỏa thuận trong “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 buộc các bên phải thực hiện. Mặc dù trong “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 hai bên không quy định thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc để bà L1 thực hiện việc cấp đổi và đo đạt tách thửa đất diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m. Tuy nhiên, xét thấy thỏa thuận ban đầu tại “giấy nhận tiền cọc sang nhượng đất” ngày 19/04/2022 hai bên sẽ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà L1 không thực hiện được, bà L vẫn cho bà L1 thời gian và chuyển thêm tiền cho bà L1 số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 11/5/2022 để bà L1 trả khoản vay tín dụng cho Ngân hàng với mong muốn được ký kết hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất này, nhưng sau khi bà L1 xóa thế chấp vào ngày 12/5/2022 lại không chủ động thực hiện cấp đổi và đo đạt tách thửa đất diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m thuộc một thửa số 204, tờ bản đồ số 21, diện tích 576m², loại đất ONT đất tại ấp R, xã M, huyện Đ mà đến ngày 05/02/2023 bà L1 mới thực hiện thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 13/10/2023 nhưng không thông tin cho bà L biết để ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Hơn nữa, ngày 26/01/2024 bà L và bà D1 có thông báo cho bà L1 biết thời gian hai bên tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào lúc 09 giờ ngày 29/01/2024 tại Văn phòng C, địa chỉ số G ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nhưng bà L1 vẫn không đến mà có con bà L1 là ông D2 đến. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy bà L1 là người đã vi phạm thỏa thuận, không muốn tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà L, bà D1.
- [3.4.2] Ủy ban nhân dân huyện Đ có Công văn số 15992/UBND-TA ngày 26/9/2024 xác định thửa đất số 204, tờ bản đồ số 21 (cấp đổi thành thửa mới số 745, tờ bản đồ số 16) thửa đất này có chiều ngang 16,9m, chiều dài 33,5m nếu tách thửa mới đối với diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m thì không đủ điều kiện tách thửa theo quy định tại Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 của UBND tỉnh L. Hiện nay theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6 và điểm b khoản 2 Điều 11 Quyết định số 49/2024/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh L thì diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m cũng không đủ điều kiện tách thửa theo quy định. Như vậy, diện tích chiều ngang 15m, chiều dài 27m mà bà L1, bà D1, bà L thỏa thuận để chuyển nhượng là không đảm bảo điều kiện tách thửa nên các bên không thể tiếp tục giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này nên nội dung thỏa thuận này là vô hiệu. Từ nhận định tại phần [3.4.1], [3.4.2] Hội đồng xét xử đủ cơ sở tuyên vô hiệu “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” đề ngày 19/01/2022 giữa bà L1 với bà D1.
- [3.4.3] Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi hợp đồng vô hiệu thì các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận nên bà L khởi kiện yêu cầu bà L1 trả lại cho bà L số tiền cọc đã nhận 1.600.000.000 đồng và bà D1 có yêu cầu độc lập yêu cầu bà L1 trả lại cho bà D1 số tiền cọc đã nhận 400.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3.4.4] Bà L rút lại yêu cầu bồi thường là tính lãi đối với số tiền 1.600.000.000đ nên cần đình chỉ đối yêu cầu này. Bà D1 yêu cầu bà L1 bồi thường tiền lãi 0,83%/tháng đối với số tiền 400.000.000 đồng tính từ ngày 11/10/2022 đến ngày 10/12/2024 là 02 năm, 02 tháng với tổng số tiền 86.666.000 đồng. Xét thấy, bản chất của hợp đồng đặt cọc thì phần thiệt hại trong hợp đồng được xác định là bên đặt cọc không tiến hành ký giao kết hợp đồng thì mất số tiền cọc, bên nhận đặt cọc không tiến hành ký giao kết hợp đồng thì chịu phạt cọc theo thỏa thuận. Đối với hợp đồng đặt cọc vô hiệu thì các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, pháp luật dân sự về đặt cọc không quy định phần thiệt hại khác ngoài trả tiền cọc, mất tiền cọc và bồi thường tiền cọc nên việc bà D1 yêu cầu bà L1 bồi thường lãi suất 0,83%/tháng đối với số tiền cọc bà D1 giao cho bà L1 là không có cơ sở chấp nhận.
- [4] Xét quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà L về buộc bà L1 phải trả số tiền cọc 1.600.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về buộc bà L1 phải trả số tiền cọc 1.600.000.000 đồng và một phần yêu cầu độc lập của bà D1 về buộc bà L1 phải trả số tiền cọc 400.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu trả tiền lãi của bà D1, đình chỉ yêu cầu trả tiền lãi của bà L là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [6] Về án phí: Bà Lang chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch về vô hiệu hợp đồng đặt cọc, chịu 60.000.000 đồng án phí trên số tiền 1.600.000.000 đồng trả cho bà L, chịu 20.000.000 đồng án phí trên số tiền 400.000.000₫ phải trả cho bà bà D1. Tuy nhiên, bà L1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà L1 được miễn án phí. Bà D1 phải chịu án phí 4.333.000 đồng đối với yêu cầu phạt lãi 86.666.000 đồng không được chấp nhận. Án phí các đương sự phải chịu nêu trên căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 123, Điều 131, Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Quyết định số 49/2024/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh L; Quyết định số 42/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 của UBND tỉnh L.
Căn cứ Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vương Xuân L do ông Phạm Hoàng D đại diện theo ủy quyền về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với bà Nguyễn Thị Xuân L1 do bà Ngô Thị Đ đại diện theo ủy quyền.
- Vô hiệu một phần “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” ký kết giữa bà Nguyễn Thị Xuân L1 với bà Trần Thị Ngọc D1 ngày 19/01/2022 đối với số tiền đặt cọc 1.600.000.000 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Xuân L1 có trách nhiệm trả cho bà Vương Xuân L số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng). Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Đình chỉ yêu cầu trả số tiền lãi 230.256.000 đồng của bà Vương Xuân L đối với bà Nguyễn Thị Xuân L1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Ngọc D1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với bà Nguyễn Thị Xuân L1 do bà Ngô Thị Đ đại diện theo ủy quyền.
- Vô hiệu một phần “giấy thỏa thuận mua bán nhà đất và đặt cọc” ký kết giữa bà Nguyễn Thị Xuân L1 với bà Trần Thị Ngọc D1 ngày 19/01/2022 đối với số tiền đặt cọc 400.000.000 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Xuân L1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Ngọc D1 số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Ngọc D1 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Xuân L1 trả số tiền lãi 86.666.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Xuân L1 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí. Hoàn trả bà Vương Xuân L 33.544.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000647 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Trần Thị Ngọc D1 phải chịu 4.333.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Bà D1 được khấu trừ 10.300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0005566, 0005567 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. H lại cho bà Trần Thị Ngọc D1 5.967.000 đồng.
- Về kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Quyên |
Bản án số 478/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 478/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
