Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 447/2024/DS-PT

Ngày: 28-11-2024

V/v “Tranh chấp chia di sản

thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp chia di sản thừa kế.”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 65 /2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 341 /2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1927;

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S: ông Võ Văn P, sinh năm 1982; địa chỉ: A Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và ông Võ Văn C1, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S: Luật sư Nguyễn Hoài N thuộc Văn phòng Luật sư G1 Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: số A B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.2. Ông Võ Văn D, sinh năm 1962;

3.3. Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1967;

3.4. Bà Võ Thị V, sinh năm 1960.

Người đại diện theo ủy quyền bà V: Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1967;

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

3.5. Ông Võ Thành N1, sinh năm 1946;

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.6. Bà Võ Thị T1, sinh năm 1967;

Địa chỉ: A P, phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tạm trú: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

3.7. Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện C.

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

3.8. Công Ty TNHH D1.

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Châu Văn H1, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

3.9. Ông Phạm Văn H2, sinh năm: 1934.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (đã chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H2:

3.9.1. Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1959.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

3.9.2. Ông Phạm Văn T2, sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

3.9.3. Bà Phạm Thị H3, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

3.9.4. Bà Phạm Thị H4, sinh năm: 1974.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

3.9.5. Bà Phạm Thị Út N2, sinh năm: 1977.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

3.10. Bà Phạm Thị S1, sinh năm: 1930.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo: ông Võ Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/10/2022, đơn kiện bổ sung sung ngày 01/02/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bà Võ Thị H trình bày như sau:

Cha, mẹ ruột bà là cụ ông Võ Văn C2, cụ bà Lê Thị T3, (cụ C2 chết năm 2003, cụ T3 chết năm 2004 cả hai không để lại di chúc). Cha mẹ bà chung sống sinh được tất cả 09 người con, đã chết 02 người, hiện còn lại 07 người con gồm: Võ Văn S, sinh năm 1927 (tuổi thực tế sinh năm 1942), Võ Thành N1, sinh năm 1946, Võ Thị V, sinh năm 1960, Võ Thị H, sinh năm 1954, Võ Văn C, sinh năm 1961, Võ Văn D, sinh năm 1962, Võ Thị Kim T, sinh năm 1967, Võ Văn L1, sinh năm 1945, chết năm 1969, bà Võ Thị N3, sinh năm 1948, chết năm 1967 (ông L1, bà N3 chết khi chưa có gia đình).

Lúc sinh thời, cụ C2 có đứng tên tổng diện tích đất 40.108m², tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Nguồn gốc đất do ông bà bên nội bà là cụ Võ Văn P1 để lại. Sau khi cha bà mất, do đất có dự án quy hoạch của khu dịch vụ Công nghiệp Đ nên không làm thủ tục phân chia thừa kế mà vẫn để cho cha bà đứng tên. Năm 2007, Nhà nước tiến hành kê biên 02 thửa đất do cha bà đứng tên là thửa 378 có diện tích 11.257m² và thửa 438 diện tích 3307m², tổng diện tích là 14.564m².

Vào khoảng năm 1977-1978, lúc này cụ C2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 378, 348, cụ C2 kêu cô ruột bà là bà Võ Thị C3 về chia diện tích 5.500m² để sử dụng, thuộc thửa 438 và một phần thửa 378. Do bà C3 ở xa, không canh tác được nên để ông C2 canh tác và đứng tên. Vào năm vào tập đoàn, cha bà có kêu bà C3 về giao đất lại sử dụng nhưng bà C3 không có điều kiện sử dụng, sau đó thì bà C3 mất. Sau khi bà C3 mất vào khoảng năm 1997-1998, thì con bà C3 là ông Phạm Văn H2 và bà Phạm Thị S1 về xin ông C2 lại phần đất trên. Do nhà ở xa không thể trực tiếp sử dụng nên ông H2, bà S1 ngỏ ý muốn bán lại nên cụ C2 kêu vợ chồng ông Võ Văn D - bà Võ Thị Tuyết B tiền mua lại phần đất trên nhằm giữ lại đất hương hỏa họ tộc. Số tiền bán đất là 19.000.000đồng, ông H2 nhận 14.000.000đồng, bà S1 nhận 5.000.000đồng. Hai bên có làm giấy tay mua bán đất với nhau. Sau khi mua lại, bà T1 - ông D trực tiếp sử dụng đất đào ao nuôi tôm, sau đó ông D - bà T1 có làm hợp đồng cho ông Phạm Văn L2 thuê nuôi tôm cho đến khi đất bị thu hồi. Như vậy, bà xác định diện tích đất di sản thừa kế của cha bà để lại là 9.064m².

Đối với tổng diện tích đất là 14.564m² đã thu hồi, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C đã chi trả số tiền bồi thường là 7.179.493.000đồng. Do có sự tranh chấp nên anh chị em trong gia đình bà thống nhất giao cho Ban Q gởi toàn bộ số tiền trên tại ngân hàng A chi nhánh huyện C Đông L, thời hạn 06 tháng. Về chính sách tái định cư, theo phương án được duyệt thì cụ C2 được bố trí 02 nền tái định cư lô 35, 36, khu A. Tuy nhiên Công ty TNHH D1 có ý kiến nếu gia đình bà không có nhu cầu nhận nền thì công ty sẽ chi trả bằng tiền, mỗi một nền là 1.800.000.000đồng. Do chị em bà đã ký tên nhận nền rồi không thể nhận tiền được và mỗi một nền công ty sẽ trừ lại số tiền 60.000.000đồng. Như vậy di án của cụ C2 gồm 9.064m² đất và 02 nền tái định cư. Bà yêu cầu Tòa án xem xét phân chia thừa kế theo pháp luật 07 kỷ phần bằng nhau bằng tiền. Việc bà T1 yêu cầu

được nhận 01 nền tái định cư tương ứng diện tích 5.500m² mà bà T1 đã mua thì bà cũng chấp nhận, tuy nhiên phần này bà yêu cầu pháp luật xem xét theo quy định. Đối với số tiền bồi thường chòi tôm của ông Phạm Văn L2 mà bà T1 đã trả trước đó, bà đồng ý khấu trừ trả số tiền này cho bà T1, ông D.

Ông Võ Văn C tranh chấp cho rằng diện tích 9000m² thuộc thửa 378 đã bị thu hồi là do ông sử dụng và ông C2 đã phân chia cho ông theo tờ tương phân lập vào ngày 30/4/1997 thì bà xác định hoàn toàn không có. Tờ tương phân ông C cung cấp cho Tòa án do ông Võ Văn T4 tự lập nên không có giá trị. Từ lúc cha bà còn sống cho đến khi mất chưa quyết định chia cho các con phần đất nào, kể cả ông D là con út. Hơn nữa theo cuộc ghi âm điện thoại giữa ông T4 và bà Võ Thị V vào ngày 01/11/2023 thì ông T4 có nói ông C2 không có cho đất ông C. Tờ tương phân ông T4 tự lập vào năm 1977, đến năm 1997 ông T4 làm lại đưa Ủy ban xã ký xác nhận. Lúc cụ C2 còn sống dự định làm hợp đồng cho ông L2 thuê nuôi tôm, hẹn 07 ngày sau làm giấy thuê đất, tuy nhiên chưa đến 07 ngày cụ C2 đột ngột qua đời. Sau khi cụ C2 mất, ông L2 đến hỏi bà thuê đất nuôi tôm thì bà có nói đất của cha mẹ bà, bà không có quyền quyết định. Sau đó thì ông C tự ý lấy đất cụ C2 cho ông L2 thuê và lấy tiền. Do thấy hoàn cảnh ông C khó khăn nên bà và anh chị em vẫn để ông C cho ông L2 thuê đất lấy tiền sinh sống. Hiện ông C cho rằng có 9000m² trong tổng diện tích đất bị thu hồi thuộc quyền sử dụng của ông C là không đúng, vì vậy qua yêu cầu ông C thì bà không đồng ý.

Bị đơn ông Võ Văn C trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa trình bày như sau:

Ông là con ruột của ông Võ Văn C2, bà Lê Thị T3. Do cha ông có đất ông bà để lại nhiều nên vào năm tập đoàn ông không nhớ rõ, Nhà nước có kêu chia đất ra nên cha ông Võ Văn C2 mời họ tộc về làm tờ tương phân. Trong tờ tương phân ông được chia 06 công đất nhỏ, tuy nhiên thực tế là ông C2 cũng đã cho và giao cho ông luôn 06 công nhỏ phần của ông C2 để ông sử dụng, tổng cộng là 9000m² thuộc thửa 378. Sau đó, ông cho ông L2 thuê phần đất này cho đến khi bị thu hồi. Như vậy diện tích 9000m² là thuộc quyền sử dụng của ông được chia theo tờ tương phân, ông yêu cầu Tòa án xem xét cho ông được nhận số tiền bồi thường với tương ứng với diện tích 9000m². Việc các anh chị em yêu cầu chia thừa kế diện tích đất này ông không đồng ý.

Đối với diện tích đất 5.500m² mà ông D, bà T1 yêu cầu xác định thuộc quyền sử dụng của ông D bà T1 thì ông tùy pháp luật xem xét. Thời điểm cha ông còn sống thì cha ông có chia phần cho người cô ruột thứ ba tên Võ Thị C3 sử dụng diện 5.500m2 nằm trong tổng diện tích bị thu hồi bồi thường. Do bà C3 ở xa không canh tác ruộng nên để cho cha ông sử dụng và đứng tên quyền sử dụng đất. Sau khi bà C3 mất lúc này cha ông vẫn còn sống, ông có nghe ông H2 là con trai bà C3 về xin lại phần đất bà C3, còn sau đó việc ông H2 thỏa thuận bán cho bà T1 - ông D thế nào ông không nắm rõ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn D trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày:

Ông là con út cụ Võ Văn C2, là chồng bà Võ Thị Tuyết. Ông hoàn toàn thống nhất lời trình bày của các chị ông là bà Võ Thị H - Võ Thị V - Võ Thị T. Ông xác định diện tích 5.500m² nằm trong thửa 438 và một phần thửa 378 đã vào quy hoạch, thu hồi là do cha ông đứng tên vào năm 1997. Cha ông trước đây có gọi cô ruột ông bà Võ Thị C3 về chia phần đất, do bà C3 ở xa không canh tác muốn bán lại nên vợ chồng ông bỏ tiền ra mua lại phần đất trên nhằm giữ lại đất hương hỏa họ tộc. Việc mua bán đất làm bằng giấy tay, ông để cho vợ ông là bà Võ Thị T1 đứng tên, tuy nhiên quyền sử dụng vẫn để cho cha ông đứng tên vì vợ chồng sống chung với cha ông. Sự việc này anh chị em trong gia đình đều biết. Trong quá trình giải quyết ở Ban Q, chính ông N1 và ông S cũng thừa nhận về nội dung này.

Đối với việc ông C cho rằng 9000m² đất là của riêng ông C thì ông xác định 9000m² đất là của cha ông chỉ đưa cho ông C làm ruộng chứ không cho hẳn. Việc ông C yêu cầu được chia riêng tiền bồi thường ứng với diện tích 9000m² thửa 378 ông không đồng ý. Nay ông yêu cầu Tòa án xem xét chia cho vợ chồng ông được nhận số tiền bồi thường ứng với 5.500m² đất đã mua. Còn lại diện tích 9.064m² và 02 nền tái định cư thì đề nghị phân chia thừa kế 07 kỷ phần số tiền bồi thường diện tích đất trên theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Tuyết T5 trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày:

Bà là vợ ông Võ Văn D, bà thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông D chồng bà. Diện tích đất 5.500m² bị thu hồi bồi thường thuộc thửa đất 438 và một phần thửa 378, thời điểm cha chồng bà còn sống chia phần cho cô chồng là bà Võ Thị C3. Do bà C3 ở xa không canh tác ruộng nên để ông C2 sử dụng và đứng tên. Sau khi bà C3 mất thì 02 người con ruột bà C3 tên Phạm Văn H2, Phạm Thị S1 về gặp ông C2 xin lại phần đất trên tuy nhiên do ông H2 không có điều kiện canh tác muốn bán lại nên ông C2 kêu vợ chồng bà bỏ tiền ra mua lại phần đất trên giá tiền 19.000.000đồng. Bà là người trực tiếp giao tiền cho ông H2 14.000.000đồng, bà S1 5.000.000đồng. Giữa bà và ông H2 có làm giấy tay mua bán lập ngày 19/10/1999. Do vợ chồng bà là con út, sống chung với ông C2 nên vẫn để cho ông C2 đứng tên chủ sử dụng đất. Sự việc này mọi người trong gia đình đều biết, chính ông C còn là người trực tiếp cạp ao dùm cho bà vì ông C cũng cho ông L2 thuê phần đất 9000m² giáp ranh phần đất của bà. Năm 2003, vợ chồng bà có làm hợp đồng cho ông Phạm Văn L2 thuê đất nuôi tôm cho đến ngày đất bị thu hồi. Bên cạnh đó ông Võ Văn S cũng ngầm biết diện tích 5.500m² này là của bà. Chính ông Võ Văn C1 con ruột ông S có hỏi bà phần đất bà mua ông H2 được bồi thường bao nhiêu tiền, vì thiệt lòng bà kể cho ông C1 nghe. Hơn nữa, vì quyền lợi của vợ chồng bà, phần đất này chính bà là người đích thân làm việc trong các cuộc họp thu hồi đất hơn 10 lần. Nay các anh chồng là ông S, ông N1 phủ nhận, cho rằng diện tích 5.500m² của bà là di sản thừa kế ông C2 và yêu cầu chia thì bà không đồng ý.

Bà yêu cầu Tòa án xem xét chia cho vợ chồng bà được quyền nhận số tiền bồi thường và 01 nền tái định cư tương ứng với diện 5.500m² mà vợ chồng bà đã mua từ ông H2, bà S1 con bà C3 theo giấy mua bán vào năm 1999 theo quy định.

Đối với diện tích 9000m² ông C tranh chấp thì bà không có ý kiến tùy pháp luật xem xét. Phần chòi tôm ông Phạm Văn L2 cất ở giữ tôm quá trình thuê đất thì bà hiện đã bỏ tiền ra chi trả cho ông L2 xong theo bản chiết tính là 4.227.000đồng, nên đề nghị trả lại cho bà chi phí này.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V và bà Võ Thị T trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày:

Các bà là con ruột cụ ông Võ Văn C2, cụ bà Lê Thị T3. Các bà thống nhất lời trình bày và yêu cầu của bà Võ Thị H, ông Võ Văn D và bà Lê Thị Tuyết .1 Diện tích còn lại 9.064m² và 02 nền tái định cư là di sản thừa kế cụ C2 mất để lại, các bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật bằng tiền đối với số tiền bồi thường làm 07 kỷ phần. Việc ông C cho rằng diện tích đất 9000 m² là quyền sử dụng của ông được chia theo tờ tương phân hoàn toàn không có, ông C2 chỉ đưa đất cho ông C sử dụng làm lúa chứ không cho đất hẳn ông C.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn S do ông Võ Văn P đại diện ủy quyền trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày:

Ông là con ruột ông Võ Văn S. Thửa đất 378 và 438 tổng diện tích 14.564m² do ông nội ông là cụ Võ Văn C2 đứng tên chủ sử dụng, là đất hương hỏa ông bà để lại. Đây là di sản thừa kế của cụ C2 để lại, ông đại diện cho ông S yêu cầu chia thừa kế 07 kỷ phần bằng nhau đối với số tiền bồi thường và 02 nền tái định cư, yêu cầu chia bằng tiền.

Ông không thừa nhận việc bà T1 có mua đất của bà C3 diện tích 5.500m² vì ông H2, bà S1 con bà C3 không có quyền sử dụng đất. Việc mua bán thực hiện bằng giấy tay bán đất cho bà T1 không hợp lệ, hơn nữa ông S cha ông hoàn toàn không biết sự việc này.

Đối với việc ông C xác định ông C có quyền riêng đối với phần diện tích 9.000m² ông đại diện cho cha ông Võ Văn S không đồng ý, ông xác định cụ C2 không có cho đất ông C.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn S, ông Võ Văn C1 trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của ông Võ Văn P, không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành N1 do ông Võ Thành H5 đại diện theo ủy quyền trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa trình bày như sau:

Ông là con ruột ông Võ Văn N4, ông thống nhất theo ý kiến ông C1, ông P đại diện cho ông S yêu cầu chia thừa kế 07 kỷ phần bằng nhau đối với phần diện tích đất bị thu hồi 14.564m² với tổng số tiền bồi thường 7.179.493.000đồng và 02 nền tái định cư do ông nội ông mất để lại, yêu cầu chia bằng tiền.

Ông không thừa nhận diện tích đất 5.500m² mà bà T1 trình bày mua từ bà C3 theo giấy tay lập ngày 19/10/1999 do bà T1 cung cấp.

Đối với diện tích 9000m² mà ông C yêu cầu được chia tiền tương ứng do đây là diện tích đất ông C được chia theo tờ tương phân thì ông cũng không đồng ý và không thừa nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C trong quá trình giải quyết vụ án có văn bản trình bày như sau:

Vào ngày 26/9/2022, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C đã chi trả số tiền 7.179.493.000đồng cho những người thừa kế theo quy định pháp luật của cụ Võ Văn C2 đã mất. Do người thừa kế của cụ C2 có sự tranh chấp số tiền bồi thường tại Tòa án nên thống nhất gởi số tiền trên tại Ngân hàng A chi nhánh huyện C Đông L, kỳ hạn 06 tháng.

Đối với 02 nền tái định cư lô 35,36 khu A7 tại khu đô thị Đ do Công ty TNHH D1 đầu tư tại xã T hiện chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, chưa được Ủy ban tỉnh Long An giao đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đến nay chưa thể giao nền cho gia đình cụ C2. Sau khi tòa án có bản án thì sẽ căn cứ kết quả giải quyết để thực hiện theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D1 do ông Châu Văn H1 đại diện theo pháp luật trình bày:

Vào ngày 26/9/2022 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C thực hiện công tác đền bù giải phóng mặt bằng đã tiến hành chi trả tiền bồi thường cho những người thừa kế của hộ ông Võ Văn C2 (đã chết) theo phiếu thu chi số 41 ngày 26/9/2022 là 7.179.493.000đồng.

Về chính sách tái định cư theo phương án phê duyệt: cụ Võ Văn C2 được bố trí 02 lô nền tái định cư theo giá ưu đãi (600.000 đ/m²), vị trí tái định cư là dự án khu tái định cư tại ấp V, xã P do UBND huyện C làm chủ đầu tư. Tuy nhiên dự án không tiếp tục triển khai nên Công ty TNHH D1 đề nghị bố trí qua khu đô thị Đ tại xã T và đã được Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư huyện C chấp nhận. Hộ cụ ông Võ Văn C2 được bố trí vào lô số 35,36, Khu A thuộc khu đô thị Đ. Hiện tại 02 lô tái định cư này chưa hoàn thiện hạ tầng do vướng mắt mặt bằng của các hộ chưa nhận tiền bồi thường. Tại cuộc họp ngày 08/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã P, Công ty trách nhiệm hữu hạn D1 có ý kiến: Đối với 02 nền tái định cư, trường hợp các thành viên hàng thừa kế của cụ C2 không nhận đất mà mong muốn nhận tái định cư bằng tiền, thì Công ty TNHH D1 sẽ hỗ trợ bằng tiền là 3.600.000.000đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T2 trong quá trình tố tụng có văn bản trình bày như sau:

Năm 1977, bà nội ông là bà Võ Thị C3 sinh năm 1911, thường trú ấp L, xã L được ông Võ Văn C2 (em ruột bà C3) thường trú xã P, Huyện C, tỉnh Long An mời về chia phần đất hương hỏa của ông Võ Văn P1 (cha ruột bà C3) để lại tọa lạc tại xã P, Huyện C, tỉnh Long An (gần sông S). Thấy việc đi lại khó khăn sản xuất không hiệu quả nên bà C3 để cho ông Võ Văn C2 canh tác.

Năm 1997, ông Võ Văn C2 gọi cha ông là Phạm Văn H2 (bà nội ông đã mất) đến nhà ông và nói trả đất lại với yêu cầu cha ông phải trực tiếp sản xuất, không

được cho thuê hay bán người khác. Thấy việc đi lại sản xuất khó khăn và phần đất trên đã cấp quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn C2 nên cha ông gợi ý bán lại cho gia đình ông C2. Đến năm 1999 bà Võ Thị Tuyết C4 dâu của ông C2 có đến nhà cha ông tại ấp L mua lại phần đất trên với giá 19.000.000đ. Chị của cha ông là bà Phạm Thị S1 nhận 5.000.000đ, ông Phạm Văn H2 nhận 14.000.000đ.

Nay qua việc các con của ông C2 tranh chấp chia thừa kế tiền bồi thường đất có liên quan đến phần đất trước đây của bà C3 thì ông không có yêu cầu gì, xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị H3, bà Phạm Thị H4, bà Phạm Thị Út N2 thống nhất trình bày:

Các bà là con của ông Phạm Văn H2, các bà xác định các bà có biết việc ông H2 có bán phần đất ở xã P gần sông S của bà C3 cho vợ chồng bà Võ Thị T1 - ông Võ Văn D. Các bà không có yêu cầu gì đối với phần đất này và xin được vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị S1 có văn bản trình bày như sau:

Bà là con của bà Võ Thị C3, bà xác định trước đây bà có bán phần diện tích đất 5.500m2 ở xã P cho bà Võ Thị T1, bà có nhận 5.000.000đ. Nay bà không có yêu cầu gì đối với phần đất này và xin được vắng mặt tại tòa án.

Người làm chứng ông Phạm Văn L2 trong quá trình tố tụng có văn bản tường trình sự việc như sau:

Vào năm 2003 vợ chồng ông Võ Văn D- bà Võ Thị T1 có làm giấy cho ông mướn ao nuôi tôm diện tích 5.500m², giá 1.200.000đồng/năm. Trên đất ông có cất chòi giữ tôm cho đến khi đất bị thu hồi, thời gian sau này bà T1 có bồi thường cho ông giá trị chòi tôm số tiền 4.227.500đồng, hiện ông không có yêu cầu gì thêm và xin được vắng mặt. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Võ Thị H về việc yêu cầu chia thừa kế tiền bồi thường do thu hồi đất của cụ Võ Văn C2 mất để lại đối với ông Võ Văn C.

1.1. Xác định di sản thừa kế của cụ Võ Văn C2 mất để lại là số tiền đã bồi thường thu hồi đất phần diện tích 9.064m² trong tổng diện tích 14.564m² đất thuộc thửa 378, 438, tờ bản đồ số 6, địa chỉ xã P, huyện C, tỉnh Long An và số tiền tương ứng giá trị 02 nền tái định cư được cấp. Tổng cộng là 8.420.158.000đồng.

1.2. Chia cho ông Võ Văn S, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, bà Võ Thị V, bà Võ Thị Kim T mỗi người số tiền trị giá 1.160.165.428đồng. Riêng ông Võ Văn C được chia số tiền trị giá 1.459.165.428đồng, cụ thể:

Đối với số tiền bồi thường 7.667.226.900đồng đã chi trả: Ông Võ Văn S, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, bà Võ Thị V, bà Võ Thị Kim T có trách nhiệm liên hệ Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C để được chi trả mỗi người số tiền 645.879.714đồng. Riêng ông Võ Văn C được chi trả số tiền 944.879.714đồng.

Toàn bộ số tiền chi trả hiện đang gửi tại Ngân hàng N6 chi nhánh huyện C Đông Long An. Ngoài ra, các ông bà nêu trên còn được nhận phần tiền lãi phát sinh tương ứng số tiền các ông bà được chia (kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 17/5/2024) cho đến khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành chi trả theo Bản án có hiệu lực của Toà án.

Ông Võ Văn S, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn C, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, bà Võ Thị V, bà Võ Thị Kim T có trách nhiệm liên hệ Công ty TNHH D1 và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C để nhận giá trị 02 nền tái định cư khi thu hồi đất của cụ Võ Văn C2, mỗi người được chi trả số tiền 514.285.714 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Văn D:

2.1. Xác định diện tích đất 5.500m² thuộc thửa đất 438 và 378, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: xã P, huyện C, tỉnh Long An trong diện tích đất 14.564m² đã thu hồi bồi thường do cụ Võ Văn C2 đứng tên thuộc quyền sử dụng của ông Võ Văn D, bà Võ Thị Tuyết .

2.2. Ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1 được nhận số tiền bồi thường do thu hồi đất là 2.847.069.000đồng. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện C có trách nhiệm chi trả số tiền trên cho ông D, bà T1.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn C về việc yêu cầu chia số tiền bồi thường tương ứng với phần diện tích 9.000m² trong tổng diện tích đất bị thu hồi 14.564m² của ông Võ Văn C2

4. Về án phí:

Bà Võ Thị T1 phải chịu 54.706.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Võ Thị Kim T phải chịu 46.805.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 23/5/2024 ,ông Võ Văn S kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, ông Võ Văn S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bà H, ông D cùng trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không cho ông C hưởng thêm số tiền 300.000.000đồng, các khoản khác của án sơ thẩm ông, bà đồng ý.

Bà T1 trình bày: bà là vợ của ông D, tiền mua đất diện tích 5.500m² là tiền của bà và ông D; tại tòa sơ thẩm, bà có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất của vợ chồng bà với các con của bà Võ Thị C3 là ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1, tòa án không thông báo cho bà nộp tiền tạm ứng án phí nhưng quyết định ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1 được nhận số tiền bồi thường do thu hồi đất là 2.847.069.000đ đồng bà đồng ý. Đại diện ông S cho rằng đất diện tích 5.500m² còn là di sản của ông C2, bà không đồng ý.

Ông Võ Văn C trình bày: ông có yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 9.000m² giữa C2 và ông nhưng không được chấp nhận; ông không đồng ý với lời trình bày của ông D, bà T1, bà H.

Ông P đại diện ông S: đề nghị không công nhận nhận hợp đồng chuyển nhượng đất của vợ chồng bà với các con của bà Võ Thị C3 là ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1, diện tích đất 5500m² vẫn là di sản của ông C2 trong tổng diện tích 14.564m² nên đề nghị chia thừa kết theo pháp luật. Cũng như bà H, ông D, ông S không nhận được thông báo của tòa án về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của bà T1, ông C.

Luật sư Nguyễn Hoàng N5 phát biểu:

Phần tranh chấp được xác định trong vụ kiện này đã được vào quyết định đền bù giải tỏa với giá trị là 7.667.226.900đồng và 02 nền đất thì bà H khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nhưng chính bà H cũng tự mình giảm đi quyền lợi chính đáng của mình khi yêu cầu trừ cho phí bà T1 và ông D là người đã mua lại phần đất 5500m². Tuy nhiên, tôi xin xác định đây là phần đất thuộc quyền sở hữu của ông C2 được đền bù số tiền là 7.667.226.900đồng và 02 nền đất đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Về việc bà T1 có yêu cầu công nhận 5500m² nhận chuyển nhượng từ ông H2 và bà S1 nhưng những giấy tờ, tài liệu mà bà T1 cung cấp đều là những giấy tờ tay không có đủ căn cứ để xác định. Bản án sơ thẩm chỉ căn cứ vào những tài liệu chứng cứ không hợp pháp và những lời khai không có căn cứ kèm theo để công nhận việc bà T1 và ông D có thực hiện việc mua bán 5500m² đất trên là hoàn toàn không có căn cứ.

Tại Bản án sơ thẩm đã xác định vào năm 1999, lúc ông C2 còn sống đã quyết định chia phần đất 5500m² cho bà Võ Thị C3 (cô ruột ông C2) quản lý sử dụng, tôi cho rằng nhận định này của cấp sơ thẩm là không có căn cứ, không có tài liệu chứng minh sự việc này. Bản án sơ thẩm cũng xác định rõ bà C3 ở xa, không có điều kiện canh tác ruộng đất, vì vậy việc các cơ quan có thẩm quyền cấp đất cho ông C2 mà không cấp cho bà C3 là hoàn toàn có căn cứ. Cho nên, bà C3 và sau này là ông H2 và bà S1 đều là những người không có quyền sử dụng đất, không được nhà nước công nhận. Vì vậy việc cấp sơ thẩm công nhận việc chuyển nhượng đất giữa bà T1 và ông D với ông H2 và bà S1 là hoàn toàn không có căn cứ theo pháp luật.

Bản án sơ thẩm cũng căn cứ vào Biên bản họp ngày 24/9/2022 của Ban Quản lý dự án huyện C cho rằng ông S và ông H2 cũng đã thống nhất chia đều các phần cho các anh chị ems au khi đã trừ đi phần đã bán cho bà T1. Biên bản này là biên bản bàn giao đất, tại đây ông S và ông H2 có xác định là sẽ bàn giao phần đất không bị tranh chấp, còn phần 5500m² bị tranh chấp sẽ trừ ra để cơ quan có thẩm quyền giải quyết chứ không phải trừ ra để công nhận quyền sử dụng đất của bà T1 đối với diện tích 5500m² này. Bản án sơ thẩm xác định ông D và bà T1 có quá trình sử dụng đất lâu dài phần diện tích 5500m2 này và trong quá trình sử dụng không có tranh chấp, không có ai ngăn cản là không có căn cứ.

Bản án sơ thẩm áp dụng Án lệ số 55/2022/AL ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cho rằng hợp đồng được xác lập trước ngày

01/01/2017 chưa được công chứng chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ của mình là không có căn cứ, không phù hợp. Bởi lẽ án lệ này chỉ áp dụng đối với các giao dịch mà bên chuyển nhượng đã được cấp GCNQSDĐ nhưng vụ án tranh chấp này ông H2 và bà S1 không hề được cấp GCNQSDĐ cũng như chưa được cơ quan có thẩm quyền nào công nhận về việc quản lí sử dụng.

Từ những căn cứ trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của ông S, bác toàn bộ yêu cầu công nhận quyền sử dung đất đối với diện tích 5500m² của ông D và bà T1 và công nhận 7.667.226.900đồng và 02 nền đất là di sản chung của ông C2 để lại và chia đều cho các đồng thừa kế.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

1. Về chấp hành pháp luật:

Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông S đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.

Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70,71,72,73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về giải quyết vụ án:

Ngày 21/10/2022 và ngày 01/02/2023, bà Võ Thị H gửi đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung ông Võ Văn C yêu cầu chia thừa kế di sản của ông C2 sau khi trừ đi giá trị 5.500m² đất của ông D bà T1. Ngày 23/01/2024 ông Võ Văn D có yêu cầu độc lập công nhận hợp đồng chuyển nhượng 5.500m² trong phần di sản thừa kế của ông C2. Tòa sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu chia thừa kế của bà H tại TBTL số 156/TB-TLVA ngày 01/6/2023, thụ lý bổ sung yêu cầu độc lập của ông D tại TBTL bổ sung số 156A/TB-TLVA ngày 10/4/2024.

Tuy nhiên, trong vụ án này những người có quyền và nghĩa vụ liên quan gồm bà Võ Thị Kim T, ông Võ Văn C, bà Võ Thị V, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn S, ông Võ Văn D đều có yêu cầu chia thừa kế di sản của ông C2; Ông S không đồng ý công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 5.500m² giữa các con của bà Võ Thị C3 là ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1 cho ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1; Bà T1 có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 5.500m² giữa ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1 cho ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1; bị đơn ông Võ Văn C có yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 9.000m² giữa ông C2 và ông. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn các đương sự làm đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, không thụ lý yêu cầu của đương sự nhưng tại phần quyết định của bản án đã tuyên:

“Chia cho ông Võ Văn S, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, bà Võ Thị V, bà Võ Thị Kim T mỗi người số tiền trị giá 1.160.165.428đồng. Riêng ông Võ Văn C được chia số tiền trị giá 1.459.165.428đồng... Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn C về việc yêu cầu chia số tiền bồi thường tương ứng với phần diện tích 9.000m² trong tổng diện tích đất bị thu hồi 14.564m² của ông Võ Văn C2. Bà Võ Thị T1 phải chịu 54.706.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Võ Thị Kim T phải chịu 46.805.000đồng án phí dân sự sơ thẩm...”

Tòa sơ thẩm không thụ lý yêu cầu của đương sự nhưng lại giải quyết các yêu cầu này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS, những vi phạm này Tòa phúc thẩm không khắc phục được nên đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận kháng cáo của ông võ Văn S, căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, người vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc được tống đạt hợp lệ, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xét xử theo trình tự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Võ Văn S đảm bảo đúng các nội dung quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Võ Văn S. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Các đương sự cùng thống nhất xác định:

Cụ ông Võ Văn C2 (chết năm 2003), cụ bà Lê Thị T3 (chết năm 2004) là vợ chồng có 09 người con chung, đã chết 02 người lúc chưa có gia đình, còn lại 07 người là Võ Văn D, Võ Thị Kim T, Võ Văn C, Võ Thị V, Võ Thành N1, Võ Văn S, Võ Thị H. Cụ C2, cụ T3 chết không để lại di chúc. Cha mẹ của cụ C2, cụ T3 chết trước đã lâu.

Năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện C có Quyết định thu hồi 02 thửa đất do cụ C2 đứng tên là thửa 378 diện tích 11.257m² và thửa 438 diện tích 3.307m², cùng tờ bản đồ số 6, loại đất lúa, tổng diện tích là 14.564m², tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 25/8/2022, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 4971/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 9157/QĐ- UBND ngày

18/6/2008, xác định số tiền bồi thường của cụ Võ Văn C2 là 7.179.493.000đồng và hiện tiền đang gửi tại Ngân hàng A chi nhánh huyện C Đ Long An.

Văn bản số 473/NHNo.CG-TH ngày 10/5/2024 của Ngân hàng A chi nhánh huyện C thì tính đến ngày xét xử sơ thẩm, số tiền gốc và lãi của số tiền bồi thường là 7.667.226.900đồng.

Ngoài tiền bồi thường thu hồi đất, ông C2 còn được bố trí 02 nền tái định cư tại lô số 35, 36 khu A thuộc khu đô thị Đ.

Đây các là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2]

Ngày 21/10/2022 và ngày 01/02/2023 bà Võ Thị H gửi đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung ông Võ Văn C5 yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C2 sau khi trừ đi giá trị 5.500m² đất của ông D bà T1.

Ngày 23/01/2024 ông Võ Văn D có yêu cầu độc lập công nhận hợp đồng chuyển nhượng 5.500m² trong phần di sản thừa kế của cụ C2. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu chia thừa kế của bà H tại TBTL số 156/TB-TLVA ngày 01/6/2023, thụ lý bổ sung yêu cầu độc lập của ông D tại TBTL bổ sung số 156A/TB-TLVA ngày 10/4/2024.

Trong quá trình tố tụng vụ án những người có quyền và nghĩa vụ liên quan gồm: bà Võ Thị Kim T, ông Võ Văn C, bà Võ Thị V, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn S, ông Võ Văn D đều có yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ C2( thể hiện bằng biên bản ghi lời khai); Ông S không đồng ý đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 5.500m² giữa các con của bà Võ Thị C3 là ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1 với ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1; Bà T1 có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 5.500m² giữa ông Phạm Văn H2, bà Phạm Thị S1 cho ông Võ Văn D, bà Võ Thị T1; đồng thời ông Võ Văn C có yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 9.000m² giữa ông C2 và ông. Những yêu cầu này của các đương sự chưa được Tòa án cấp sơ thẩm làm rõ để thụ lý và xem xét giải quyết các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập yêu cầu của đương sự để từ đó xác định di sản của cụ C2 sau khi chết còn lại là bao nhiêu nhưng tại phần quyết định của bản án đã tuyên:

“Chia cho ông Võ Văn S, ông Võ Thành N1, ông Võ Văn D, bà Võ Thị H, bà Võ Thị V, bà Võ Thị Kim T mỗi người số tiền trị giá 1.160.165.428đồng. Riêng ông Võ Văn C được chia số tiền trị giá 1.459.165.428đồng... Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn C về việc yêu cầu chia số tiền bồi thường tương ứng với phần diện tích 9.000m² trong tổng diện tích đất bị thu hồi 14.564m² của ông Võ Văn C2. Bà Võ Thị T1 phải chịu 54.706.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Võ Thị Kim T phải chịu 46.805.000đồng án phí dân sự sơ thẩm...”

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không có thụ lý yêu cầu của đương sự nhưng lại giải quyết các yêu cầu này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS. Ngoài ra Tòa

án cấp sơ thẩm còn tuyên: các ông bà nêu trên còn được nhận phần tiền lãi phát sinh tương ứng số tiền các ông bà được chia kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 17/5/2024) cho đến khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành chi trả theo Bản án có hiệu lực của Toà án trong khi các đương sự không có yêu cầu.Những vi phạm này àm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án và với cách tuyên này sẽ gây khó cho công tác thi hành án, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn S, căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Võ Văn S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên được miễn án phí phúc thẩm.

[4] Phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của Ông Võ Văn S. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Võ Văn S không phải chịu.

4. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • -VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 447/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 447/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger