Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 477/2024/HS-PT

Ngày 17 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thế Phương;

Ông Nguyễn Đình Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 286/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 27-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Tổ B, Ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Căn cước công dân số [...] cấp ngày 12 tháng 8 năm 2021; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C và bà Võ Thị M; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm 1972 và 03 con, con lớn sinh năm 1998 và con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, ông Hồ Hữu H cùng với Nguyễn Văn L sau khi ăn nhậu thì cùng nhau đi về nhà của ông H tại Ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, bà Nguyễn Thị Cẩm T (là vợ ông H) đóng cổng không cho L vào nhà nên giữa L và bà T xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau tại cổng. Sau đó bà T đóng cổng lại, đi vào sân nhà lấy một con dao rựa có đặc điểm dài 1,2m (cán làm bằng tre dài 80cm, lưỡi dao bằng sắt hình lưỡi liềm màu đen, dài 40cm) cầm thò qua song cửa cổng, khua lưỡi dao về phía L nhằm đuổi không cho L vào nhà. Tiếp đó hai bên tiếp tục cự cãi, bà T dùng tay cầm thân dao phía đằng lưỡi, hướng cán dao thò qua cánh cửa đập trúng vào người L và bị L cầm được cán dao giằng ngược lại, làm lưỡi dao cứa vào cẳng tay gây thương tích cho bà T.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1012/KLTTCT-TTPYĐN ngày 20/10/2023 của Trung tâm P1 xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Cẩm T tại thời điểm giám định là 09%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Vật gây thương tích là vật sắc.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 27-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 48; Điều 50 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Áp dụng Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị áp giải thi hành án phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự; án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 là có căn cứ, đúng quy định.

- Về kháng cáo và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác; mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp không nặng như kháng cáo đã nêu. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung

2.1. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nhận định, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

2.2. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Tại cấp phúc thẩm: Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất (theo Biên lai thu tiền số 00004061 ngày 12-6-2024); như vậy, về trách nhiệm bồi thường bị cáo đã thực hiện xong là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.

2.3. Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục. Bị cáo kháng cáo cung cấp được tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt bị cáo bị truy tố.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Chấp nhận một phần ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; sửa bản án Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2024/HS-ST ngày 27-5-2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất về hình phạt đối với bị cáo.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất (2);
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Thống Nhất;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thống Nhất;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 477/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 477/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger