|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 477/2024/DS-PT
Ngày: 31-7-2024
V/v tranh chấp phát sinh từ HĐ vay vốn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Hà |
| Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Thư ký phiên toà ghi biên bản: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng vay vốn ”.
Do bản án sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 316/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Trần Ngọc C, sinh năm 1986.
Địa chỉ liên hệ: Số C đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 01/7/2024. Có mặt.
Bị đơn: Công ty Cổ phần B (viết tắt là Công ty B);
Địa chỉ trụ sở: Số nhà C, ngõ B, đường P, phường X, quận N, TP Hà Nội;
Địa chỉ giao dịch: Tầng F, Tòa nhà Hội nhà báo Việt Nam, phố D, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T1 - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Hải N - Chức vụ: Phó Phòng pháp chế; bà Nguyễn Thị T2 - Chức vụ: Chuyên viên pháp chế. Theo Giấy uỷ quyền số 10/2024/GUQ-BĐSKS ngày 11/03/2024. Có mặt.
Do có kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
* Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong các lời khai tại Toà án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 05/02/2021, ông T và Công ty Cổ phần B ký Hợp đồng vay vốn số NO18.2-9/HDVV/2021/KOSY-NINHBINH và Văn bản cam kết số NO18.2-9/HDVV/2021/KOSY-NINHBINH, theo đó ông T đã nộp số tiền đầu tư là: 642,600,000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty B đã không thực hiện đúng thỏa thuận, vì vậy ông T và Công ty B đã thống nhất thanh lý Hợp đồng và ký Biên bản thanh lý Hợp đồng số NO18.2-9/BBTL NINHBINH ký ngày 31/12/2022.
Theo Biên bản thanh lý Hợp đồng số NO18.2-9/BBTL NINHBINH ký ngày 31/12/2022 giữa ông T là Bên B và Công ty B là Bên A, Biên bản thanh lý đã có thỏa thuận tại Điều 2 với nội dung:
“Bên A hoàn trả cho Bên B tổng số tiền mà Bên B đã giải ngân cho Bên A. Tổng số tiền Bên B nhận lại là: 1,092,420,000 đồng. Số tiền mà Bên A thanh toán cho Bên B được chia thành hai đợt: Đợt 1 là 642,600,000 đồng ngay khi ký Biên bản thanh lý Hợp đồng nêu trên; Đợt 2: 449,820,000 đồng vào ngày 30/06/2023”.
Từ thời điểm hai bên ký Biên bản thanh lý Hợp đồng NO18.2-9 vào ngày 31/12/2022, Biên bản này đã có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, đến nay Công ty B chưa thanh toán tiền Đợt 2 (Vào ngày 30/06/2023) cho ông T với số tiền là 449,820,000 đồng. Ông T đã nhiều lần thúc giục đề nghị Công ty B hoàn tất việc thanh toán. Ngày 02/10/2023, Công ty L là đơn vị nhận ủy quyền của ông T (Theo Hợp đồng ủy quyền số 289/2023/HĐUQ ký ngày 28/09/2023 ký giữa ông T và Công ty L) đã gửi Văn bản yêu cầu Công ty B thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với ông T nhưng đã không nhận được bất kỳ sự phản hồi nào.
Nay ông T đề nghị Toà án buộc Công ty B phải thanh toán đầy đủ công nợ gốc cho ông T với số tiền là 449.820.000 đồng.
Thanh toán tiền lãi chậm thanh toán cho ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, tạm tính từ ngày 01/07/2023 đến ngày 19/04/2024 với số tiền là 36.110.550 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty B không thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền trên cho ông T thì Công ty B phải chịu mức lãi suất là 10%/năm (Quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015) trên tổng số tiền chưa thanh toán cho đến khi thanh toán hết nợ.
* Đại diện bị đơn Công ty B trình bày: Ngày 05/02/2021 Công ty B có ký Hợp đồng vay vốn số NO18.2-9/HDVV/2021/KOSY-NINHBINH với ông Ngô Quang T, thời hạn 24 tháng kể từ ngày ông Ngô Quang T chuyển đủ số tiền cho vay.
Ngày 31/12/2022, Công ty B và ông Ngô Quang T thống nhất thanh lý hợp đồng vay vốn đã ký theo đơn đề nghị thanh lý hợp đồng vay vốn của ông Ngô Quang T. Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL-KOSY NINHBINH ông Ngô Quang T có nguyện vọng chấm dứt hợp đồng vay vốn trước thời hạn và đồng ý không tính lãi vay theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng vay vốn. Theo nội dung hợp đồng vay vốn và đơn đề nghị thanh lý hợp đồng vay vốn của ông T, Công ty B đã thanh toán toàn bộ phần gốc của Hợp đồng vay vốn là 642.600.000 đồng là số tiền đợt 1 của Biên bản thanh lý. Số tiền đợt 2 là số tiền lợi nhuận cam kết theo thoả thuận, hiện nay do tình hình thị trường khó khăn, Công ty không có nguồn thu nên chưa thanh toán được cho ông Ngô Quang T. Công ty đã làm việc nhiều lần với ông T đề nghị giãn phần lợi nhuận đầu tư này nhưng các bên chưa thống nhất được.
Tại phiên toà sơ thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên các ý kiến đã nêu ở trên và đề nghị Công ty B phải thanh toán cho ông Ngô Quang T số tiền gốc là 449.820.000 đồng. Số tiền lãi tính từ ngày 01/07/2023 đến ngày xét xử 24/04/2024 là 36.940.697 đồng. Tổng số tiền là 486.760.697 đồng.
Bị đơn không đồng ý với nguyên đơn về yêu cầu tính lãi và gốc số tiền là 486.760.697 đồng vì tính như vậy là lãi chồng lãi.
Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ngô Quang T về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay vốn” đối với Công ty Cổ phần B.
- Buộc Công ty Cổ phần B phải trả cho ông Ngô Quang T số tiền nợ gốc là 449.820.000 đồng, số tiền nợ lãi là 36.940.697 đồng. Tổng số tiền là 486.760.697 đồng .
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.
Không đồng ý với bản án Công ty Cổ phần B là bị đơn trong vụ án kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là áp dụng không đúng quy định pháp luật đối với khoản tiền lãi chậm thanh toán là 36.940.697đ cũng như chưa đánh giá đúng nội dung Đơn đề nghị thanh lý Hợp đồng vay vốn trước thời hạn của ông Ngô Quang T ngày 25/12/2023 khi tiến hành hòa giải, xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và Công ty Y Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: các đương sự không xuất trình các tài liệu chứng cứ mới. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình thức là hợp lệ.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Công ty Cổ phần B nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ về mặt hình thức.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn có mặt.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo toàn bộ bản án của Công ty Cổ phần B.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Ngày 05/02/2021 Công ty B có ký Hợp đồng vay vốn số NO18.2-9/HDVV/2021/KOSY-NINHBINH với ông Ngô Quang T theo đó ông T cho công ty V tổng số tiền là 642.600.000 đồng, có lãi suất, có thời hạn là 24 tháng và một số điều khoản khác. Việc ký Hợp đồng vay vốn giữa ông T và Công ty B là tự nguyện không trái quy định của pháp luật phù hợp với quy định tại các Điều 117; 463; 467; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy bản Hợp đồng được hai bên ký kết có giá trị pháp lý, theo đó các bên cùng có nghĩa vụ thực hiện.
- Ngày 31/12/2022, Công ty B và ông Ngô Quang T đã bàn bạc, thoả thuận và nhất trí ký Biên bản thanh lý hợp đồng để cùng nhau thanh lý, chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng số NO18.2-9/HĐVV/2021/KOSY NINH BÌNH và Văn bản cam kết ký ngày 05/02/2021 cùng toàn bộ các thoả thuận, cam kết đã có giữa hai bên (BL 17). Tại Điều 2 Biên bản thanh lý hợp đồng ghi nội dung:
“Bên A hoàn trả Bên B tổng số tiền mà Bên B đã giải ngân cho Bên A. Tổng số tiền Bên B nhận lại là: 1,092,420,000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi ngàn đồng chẵn).
Đợt 1: 642,600,000 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm bốn mươi hai triệu, sáu trăm ngàn đồng);
Đợt 2: 449,820,000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng chẵn) vào ngày 30/6/2023.
Kể từ thời điểm hai bên ký Biên bản thanh lý này, Hợp đồng số NO18.2-9/HĐVV/2021/KOSY NINH BÌNH và Văn bản cam kết cùng các thoả thuận khác đã có hết hiệu lực, các Bên không còn bất kỳ quyền và nghĩa vụ liên quan với nhau trong Hợp đồng nêu trên.
Biên bản Thanh lý là cơ sở pháp lý vô hiệu toàn bộ những thoả thuận, văn bản cam kết đã có giữa hai Bên hoặc/và Bên thứ ba nào khác (nếu có); trừ nguyên tắc bảo mật thông tin”
Xét: Biên bản thanh lý hợp đồng được ký giữa hai bên có chữ ký của ông T và Công ty B là tự nguyện không trái quy định của pháp luật. Bị đơn thừa nhận Biên bản thanh lý hợp đồng đúng nội dung và hình thức. Vì vậy các bên không còn quyền và nghĩa vụ trong Hợp đồng vay vốn số NO18.2-9/HĐVV/2021/KOSY NINH BÌNH, thay vào đó các bên phát sinh quyền và nghĩa vụ mới kể từ Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL-KOSY NINHBINH.
2.1. Xét yêu cầu của ông Ngô Quang T về việc đòi số tiền nợ gốc là 449.820.000 đồng: Căn cứ Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL-KOSY-NINHBINH, hai bên tự nguyện, thống nhất cùng nhau cam kết số tiền được nhận (Không tính lãi vay theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng vay vốn) của ông Ngô Quang T là 1.092.420.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ trình bày của đại diện theo uỷ quyền của Công ty B, thể hiện bị đơn là Công ty B xác nhận có ký Hợp đồng vay vốn với ông Ngô Quang T theo Hợp đồng số N018.2-9/HĐVV/2021, KOSY NINH BÌNH thời hạn 24 tháng. Nay bị đơn đưa ra yêu cầu do Công ty đang gặp khó khăn đề nghị ông Ngô Quang T tạo điều kiện cho Công ty trả nợ dần nhưng ông T không nhất trí. Vì vậy, cấp sơ thẩm buộc Công ty B phải thanh toán trả ông T số tiền nợ gốc 449,820,000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng chẵn) theo Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL-KOSY NINHBINH giữa ông Ngô Quang T và Công ty B là có căn cứ.
2.2. Đối với yêu cầu của ông T về việc thanh toán tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 449,820,000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng chẵn) từ thời điểm công ty vi phạm nghĩa vụ cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm.
Và xét kháng cáo của bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm tính lãi trên số nợ nêu trên là lãi chồng lãi, trái với quy định của pháp luật; tại biên bản thanh lý hợp đồng các bên cũng không thoả thuận về lãi.
Như đã phân tích trên: Sau khi ký hai bên ký Biên bản thanh lý hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ phát sinh theo Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL-KOSY NINHBINH. Công ty B đã thực hiện thanh toán đủ số tiền đợt 1 cho ông Ngô Quang T theo thoả thuận, thể hiện tại Phiếu chi ngày 31/12/2022). Hai bên đã xác nhận thanh toán xong khoản này. Tuy nhiên theo thoả thuận đến ngày 30/06/2023, Công ty cổ phần B có nghĩa vụ thực hiện thanh toán tiền đợt 2 với ông Ngô Quang T là 449,820,000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng chẵn) nhưng Công ty đã không thanh toán đúng hạn.
Xét thấy, thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ đợt 2 tại Biên bản thanh lý hợp đồng số NO18.2-9/BBTL/KOSY NINH BÌNH của Công ty Cổ phần B là kể từ ngày 01/7/2023 và hai bên không thoả thuận về lãi suất.
Trong quá trình giải quyết vụ án các bên cũng không thống nhất được phần nghĩa vụ chậm thanh toán.
Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, Quy định Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trường hợp hai bên không có thỏa thuận về lãi suất phát sinh thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Do vậy yêu cầu tính lãi chậm thanh toán mà nguyên đơn cung cấp cho Toà án thể hiện số tiền nợ lãi đưa ra là 10%/năm đã tính phù hợp với mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền lãi của ông Ngô Quang T kể từ thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ (ngày 01/7/2023) cho đến thời điểm xét xử (ngày 26/4/2024) được xác định như sau:
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (Nợ gốc quá hạn chưa trả) x (Lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm trả nợ) x (Thời gian chậm trả nợ gốc).
Tương ứng số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử là: 449,820,000 đồng x 10%/năm x 9 tháng 26 ngày = 36.940.697 đồng.
Cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu này của ông Ngô Quang T là phù hợp với pháp luật vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B. Cần áp dụng khoản 1 Điều 308 giữ nguyên bản án DSST số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
- Ông Ngô Quang T không phải chịu án phí sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Công ty Cổ phần B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357; Điều 429; Điều 463; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ngô Quang T về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay vốn” đối với Công ty Cổ phần B.
- Buộc Công ty Cổ phần B phải trả cho ông Ngô Quang T số tiền nợ gốc là 449.820.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi chín triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng), số tiền nợ lãi là 36.940.697 đồng (Ba mươi sáu triệu chín trăm bốn mươi nghìn sáu trăm chín bảy đồng). Tổng số tiền là 486.760.697 đồng (Bốn trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn sáu trăm chín bảy đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số nợ gốc tính từ ngày 27 tháng 4 năm 2024 của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm;
- + Công ty cổ phần B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.470.428 (Hai mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn bốn trăm hai mươi tám) đồng.
- + Ông Ngô Quang T được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 10.000.000 (Mười triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009276 ngày 09/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- Công ty Cổ phần B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009694 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 477/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay vốn
- Số bản án: 477/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng vay vốn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn
