Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 477/2024/DS-PT

Ngày: 19-11-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng

Ông Trương Hoài Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 278/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DSST ngày 28 tháng 06 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 354/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1965; Địa chỉ: C, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Có mặt
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Văn bản ủy quyền ngày 23/11/2023). Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Lý Hữu T, sinh năm 1985, bà Hồ Hoàng Anh T1, sinh năm 1998; cùng địa chỉ: số B đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Văn L, sinh năm 1971; địa chỉ: số B đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Văn V

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết đại diện nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Ông Nguyễn Văn V có cho ông Lý Hữu T, bà Hồ Hoàng Anh T1 vay tiền mặt 02 lần, cụ thể:

  • - Lần 01: Hợp đồng vay tài sản ngày 04/5/2022, có công chứng, số tiền vay 400.000.000đ, thời hạn vay 40 tháng, mỗi tháng trả 10.000.000đ vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, vay không lãi.
  • - Lần 2: Tiếp theo cùng ngày 04/05/2022, lập “Tờ cam kết” viết tay, vay 540.000.000đ, mỗi tháng trả 10.000.000đ, ba tháng trả một lần.

Sau khi vay tiền, bị đơn không thực hiện đúng thỏa thuận, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ như sau:

  • - Hợp đồng vay có công chứng, bị đơn chậm trả số tiền 240.000.000đ nên yêu cầu trả lãi 10%/tháng, thời gian 24 tháng 24 ngày, số lãi là 49.558.000đ.
  • - Nợ theo tờ cam kết 540.000.000đ, bị đơn trả vốn được 10.000.000đ, chậm trả 250.000.000đ nên yêu cầu tính lãi chậm trả 10%/tháng, thời gian 25 tháng 24 ngày, lãi là 53.705.000đ.

Yêu cầu bị đơn trả tổng số nợ vốn 930.000.000đ và lãi là 103.263.000đ.

Bị đơn ông T, bà T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Ông Bùi Văn L trình bày: Ông T và bà T1 hiện nay đi đâu không rõ, không liên lạc được. Đối với nội dung việc ông V kiện đòi bị đơn trả vốn 930.000.000đ là không đúng, việc vay mượn các bên chỉ thỏa thuận tương đương khoảng 500.000.000đ, đây là tiền ông T, bà Thư K nhằm bảo lãnh cho cha của ông T là ông L1 (không rõ họ tên, địa chỉ) được nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông V đang nhận thế chấp (cụ thể như thế nào thì ông không rõ). Khi ông V siết nợ có những lời lẽ khó nghe thì ông T, bà T1 đứng ra ký nhận thay. Ông L cho rằng ông chỉ là người biết thỏa thuận này chứ ông không có bảo lãnh cho ông T, bà T1.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Vũng.
  • Buộc ông Lý Hữu T, bà Hồ Hoàng Anh T1 phải trả cho ông Nguyễn văn V tổng số nợ gốc và lãi tính chung đến ngày xét xử sơ thẩm (28/6/2024) là 577.310.000đ, trong đó nợ gốc 530.000.000đ và nợ lãi 47.310.000đ.
  • Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải tiếp tục trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/07/2024, nguyên đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn nợ gốc là 930.000.000đ và nợ lãi là 103.264.000đ.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn: cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá các chứng cứ đương sự cung cấp và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần 2 nhưng đều vắng mặt không lý do. Do vậy, căn cứ vào Khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn, nhận thấy:

Theo trình bày của đại diện nguyên đơn thì nguyên đơn có cho bị đơn vay 02 lần tiền, có thỏa thuận các nội dung, cụ thể:

  • - Lần 01: Hợp đồng vay tài sản ngày 04/5/2022, có công chứng, số tiền vay 400.000.000đ, thời hạn vay 40 tháng, mỗi tháng trả 10.000.000đ vào ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng, vay không có lãi suất, thời gian và địa điểm giao nhận tài sản vay do hai bện tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm về việc giao nhận tài sản.
  • - Lần 2: cùng ngày 04/05/2022, lập “Tờ cam kết” viết tay, nội dung vợ chồng ông T, bà T1 có mượn 540.000.000đ, hứa mỗi tháng trả 10.000.000đ, ba tháng trả một lần.

Nguyên đơn cho rằng có cho bị đơn vay tiền lần 1 (vay không lãi), sau đó tiếp tục cho mượn lần 2. Lời trình bày của nguyên đơn là không có căn cứ, Bởi các lý do sau:

  • - Nguyên đơn khai khi hai bên tiến hành ký hợp đồng vay tiền lần 1 thì giao tiền trực tiếp cho bị đơn tại Văn phòng công chứng nhưng không có sự chứng kiến của công chứng viên, không có ai làm chứng và không có giấy tờ gì chứng minh.
  • - Sau khi hai bên ký hợp đồng vay lần 1 với các nội dung nêu trên thì trong nội dung “Tờ cam kết” cùng ngày, cũng không có nội dung nào thể hiện việc bị đơn mượn thêm 540.000.000đ, mà chỉ thể hiện bị đơn mượn 540.000.000đ và cam kết trả nợ.
  • - Ông Bùi Văn L là người chứng kiến trong tờ cam kết cũng xác định việc vay mượn các bên chỉ thỏa thuận tương đương khoảng 500.000.000đ.

Như vậy, trong ngày 04/5/2022, chỉ có căn cứ xác định nguyên đơn cho bị đơn vay (vay không lãi) số tiền 540.000.000đ, cho vay trả góp, mỗi tháng trả 10.000.000đ, ba tháng trả một lần. Cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả nợ gốc còn lại 530.000.000đ và trả lãi đối với số tiền nợ gốc chậm trả ( 250.000.000đ) theo mức lãi suất 10%/năm, thời gian chậm trả tính từ ngày 08/8/2022, là có lợi cho nguyên đơn.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn V;

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 28 tháng 06 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn V.

Buộc ông Lý Hữu T, bà Hồ Hoàng Anh T1 phải trả cho ông Nguyễn Văn V tổng số nợ gốc và lãi tính chung đến ngày xét xử sơ thẩm (28/6/2024) là 577.310.000đ (Năm trăm bảy mươi bảy triệu, ba trăm mười ngàn đồng), trong đó nợ gốc 530.000.000đ và nợ lãi 47.310.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm:
  • Ông Lý Hữu T và bà Hồ Hoàng Anh T1 phải chịu 27.092.000đ.
  • Ông Nguyễn Văn V phải chịu 22.238.000đ, được khấu trừ vào 10.755.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000242 ngày 13/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều; ông Nguyễn Văn V phải nộp thêm 11.483.000đ.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm:
  • Ông Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001725 ngày 06/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều; ông V đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hoàng Dũng – Trương Hoài Bình Nguyễn Quyến
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 477/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 477/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger