TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 476/2024/DS-ST
Ngày: 24 - 7 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 658/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 460/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 635/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984; Giấy ủy quyền số 2889/2023/UQ-TGĐ ngày 30/8/2023; Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đặng Đại P, sinh năm 1991; vắng mặt.
Địa chỉ: Số A đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn- do ông Trần Đức T đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 24/4/2019, ông Đặng Đại P có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông P, Ngân hàng đã cấp cho ông P thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích là tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông P đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 91.333.250 đồng và đã thanh toán được số tiền 77.754.003 đồng. Dù đã nhiều lần nhắc nhở, thông báo nhưng ông P không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo quy định nên ngày 23/5/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư
1
nợ còn thiếu là 21.831.670 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2,6% x 150%).
Tạm tính đến ngày 24/7/2024, ông P còn nợ tổng số tiền là 65.736.694 đồng (trong đó: Nợ gốc là 21.831.670 đồng, nợ lãi quá hạn là 43.905.024 đồng). Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Đại P có trách nhiệm thanh toán số tiền toàn bộ số nợ trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông P có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ 25/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại hợp đồng.
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là ông Đặng Đại P không có mặt tại Tòa án nên Tòa án tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa:
Ông Trần Đức T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn – ông Đặng Đại P vắng mặt không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng việc thụ lý vụ án cũng như quá trình xây dựng hồ sơ, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của đương sự, có cơ sở xác định việc bị đơn có ký Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng với nguyên đơn. Do ông P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chuyển khoản nợ quá hạn. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi là 65.736.694 đồng là có cơ sở theo quy định khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét Đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn- ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử văng mặt các đương sự.
- [3] Về yêu cầu của đương sự:
2
- [3.1] Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 24/4/2019 mà ông Đặng Đại P đã ký với Ngân hàng thể hiện sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 400 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- [3.2] Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 65.736.694 đồng (trong đó: Nợ gốc là 21.831.670 đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 24/7/2024 là 43.905.024 đồng) và lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng:
Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ông Đặng Đại P là bên vi phạm hợp đồng, không trả nợ gốc và nợ lãi đúng hạn theo thỏa thuận. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Đại P không đến Tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu và xuất trình tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Đặng Đại P thanh toán số nợ gốc và nợ lãi là 65.736.694 đồng; Thanh toán khi bản án có hiệu lực pháp luật; Lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 25/7/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 18, Điều 20, Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông Đặng Đại P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.286.835 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 1.407.855 đồng.
- [4]. Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 179, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 335, Điều 336, Điều 342, Điều 385, Điều 400, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
3
- Buộc ông Đặng Đại P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 65.736.694 đồng (Sáu mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi sáu ngàn sáu trăm chín mươi bốn đồng) của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 24/4/2019, cụ thể:
- + Nợ gốc: 21.831.670 đồng;
- + Nợ lãi quá hạn tính đến ngày 24/7/2024: 43.905.024 đồng.
- Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Đặng Đại P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.286.835 đồng (Ba triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn tám trăm ba mươi lăm đồng).
- - Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 1.407.855 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ bảy ngàn tám trăm năm mươi lăm đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0000305 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng TMCP S; ông Đặng Đại P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Nhung |
4
5
Bản án số 476/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 476/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu
