|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 476/2024/DS-ST
Ngày: 30 - 9 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hà Thiên Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân chính thức:
- Ông Bùi Hoàng Nguyên.
- Bà Đỗ Thị A.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 325/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 527/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 269/2024/QĐHPT-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo hợp pháp của nguyên đơn:
Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: P, Tầng D, Tòa nhà số G đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 01/01/2024)
Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: C T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 08/10/2021, Công ty T (Việt Nam), (gọi tắt là công ty) ký Hợp đồng tín dụng số 2529779 về việc cấp tín dụng cho bà Lê Thị Ngọc H với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (bao gồm khoản vay 30.000.000 đồng và phí bảo hiểm 1.980.000 đồng). Sau khi hợp đồng được ký kết, công ty đã giải ngân cho bà H.
Theo hợp đồng tín dụng, bà H có nghĩa vụ trả góp hàng tháng tiền gốc, lãi với số tiền là 2.056.089 đồng, trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 05/11/2021 đến ngày 05/10/2023, theo mức lãi suất là 3.75%/ tháng, 45%/năm.
Sau khi giải ngân, đến nay bà Lê Thị Ngọc H chỉ mới thanh toán trả góp cho công ty được 10 kỳ với số tiền là 20.585.089 đồng (trong đó tiền gốc là 10.196.886 đồng, tiền lãi là 10.244.004 đồng, phí là 119.851 đồng). Từ ngày 06/8/2022 đến nay, bà H không thanh toán theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty đã giải ngân.
Công ty đã nhắc nợ nhiều lần để yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà H biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Ngọc H thanh toán cho công ty số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 51.321.146 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.783.114 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 6.558.494 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 21.865.643 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.113.895 đồng.
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập bà H đến Toà để tiến hành lấy lời khai, mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.
Tại phiên tòa,
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Phước Quỳnh G có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo xác nhận của Công an P, Quận A do nguyên đơn cung cấp, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Xét Giấy ủy quyền số 199/2023/GUQ-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T (Việt Nam) ủy quyền cho Công ty L và Giấy ủy quyền ngày 20/02/2024 của Công ty L1 Tin cho bà Nguyễn Phước Q Giao tham gia tố tụng giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Xét, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lê Thị Ngọc H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia phiên tòa, cũng như không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2529779 ngày 07/10/2021 của Công ty T (Việt Nam) với bà Lê Thị Ngọc H, được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự
[2.1]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc với số tiền 21.783.114 đồng.
Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2529779 ngày 07/10/2021 cho thấy bà H có vay của Công ty T (Việt Nam) số tiền 31.980.000 đồng. Tại mục 3.6 khoản 3, phần B của Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận như sau: Hàng tháng bà H có nghĩa vụ trả số tiền là 2.056.089 đồng, kể từ ngày 05/11/2021 đến ngày 05/10/2023. Và căn cứ báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng thể hiện: Quá trình vay, bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 06/8/2022 đến nay, tính đến ngày 30/9/2024, bà H còn nợ Công ty số tiền nợ gốc là 21.783.114 đồng. Như vậy bà H đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 21.783.114 đồng.
[2.2]. Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi
Tại mục 3.7, mục 3.8 Khoản 3 và Mục 8.3 Khoản 8, phần B của đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng ngày 07/10/2021 thì các bên thỏa thuận: Lãi suất trong hạn là 3.75%/tháng, lãi suất theo năm là 45%/năm, lãi suất quá hạn là mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả bằng 10% dư lãi chậm trả.
Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi với số tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 lãi trong hạn là 6.558.494 đồng, tiền lãi quá hạn là 21.865.643 đồng, tiền lãi chậm trả 1.113.895 đồng) là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2529779 ngày 07/10/2021 là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Lê Thị Ngọc H có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 51.321.146 (năm mươi mốt triệu, ba trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm bốn mươi sáu) đồng. Trong đó bao gồm, nợ gốc là 21.783.114 (hai mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, một trăm mười bốn) đồng, tiền lãi trong hạn 5.558.494 (năm triệu, năm trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm chín mươi bốn) đồng, tiền lãi quá hạn 21.865.643 (hai mươi mốt triệu, tám trăm sáu mươi lăm nghìn, sáu trăm bốn mươi ba) đồng, tiền lãi chậm trả 1.113.895 (một triệu, một trăm mười ba nghìn, tám trăm chín mươi lăm) đồng.
1. Tiền lãi sẽ tiếp tục tính từ ngày 01/10/2024 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi trả hết nợ gốc, theo mức lãi suất thỏa thuận và mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận tại trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2529779 ngày 07/10/2021.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 2.566.057 đồng (hai triệu, năm trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm năm mươi bảy) đồng, bà Lê Thị Ngọc H chịu.
Công ty T (Việt Nam) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 858.436 (tám trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm ba mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0035430 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hà Thiên Tâm |
Bản án số 476/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 476/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
