Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 476/2024/DS-PT

Ngày: 27-5-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng góp vốn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh

Các Thẩm phán: 1. Bà Võ Thị Kim Thương

2. Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27/5/2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2024/TLPT-DS ngày 06/03/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 211/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận E, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2288/2024/QĐ-PT ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:

Đồng nguyên đơn:

  1. Bà Võ Chi M, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số D, đường N, Phường D, Quận A, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
  2. Ông Cao Phụng Nguyên B, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số B, đường số C, Khu dân cư A, phường B, quận B, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
  3. Ông Võ Công M1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số A, đường H, Phường I, quận P, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
  4. Bà Trần Thị Mộng T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A, đường D, Phường B, Quận H, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
  5. Bà Hoàng Thục T1, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt).
  6. Ông Đoàn Quốc V, sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số A, Lô I, Khu Đ, tổ H, khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố H.

2

Người đại diện theo ủy quyền của các ông/bà: M, B, M1, T, T1, V: Bà Hồ Thị Minh T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường A, quận P, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

  1. Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số G, đường S, Phường A, Quận A, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Trịnh Ngọc Ánh T3, sinh năm 1969.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Á: Ông Nguyễn Trung H1, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số G, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố H

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên V1 và Xây dựng.

Địa chỉ trụ sở: Số nhà H, phố L, phường T, quận H, thành phố N. Địa chỉ Văn phòng đại diện: Số A, đường Đ, phường T, quận Đ, thành phố N.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Mạnh T4, sinh năm 1980 – Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Địa chỉ thường trú: Số A, đường L, phường Đ, quận H, thành phố N. Địa chỉ cư trú: Số C, đường B, phường L, quận L, thành phố N.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Vũ Công T5 – Chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty. Địa chỉ: Tổ F, phường N, quận L, thành phố N (có đơn xin vắng mặt).. Và/hoặc:

- Ông Nguyễn Như K – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Công ty tại Phía Nam. Địa chỉ: Số C, khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Số B, đường A, cư xá N, phường T, Quận G, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956. Địa chỉ cư trú: Phòng 11-06, Lô C, Chung cư Ngô Tất Tố, Phường 19, quận Bình Thạnh, Thành phố H
  2. Ông Nguyễn Trung H1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số G, đường T, Phường A, Quận A, Thành phố H (có đơn xin vắng mặt).

Người kháng cáo: Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Chi M (có bà Hồ Thị Minh T2 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 28/10/2004, bà M đã ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 92/HĐGV-CNPN với Công ty V1 - Chi nhánh phía Nam để mua 01 nền nhà có diện tích 140m2 thuộc dự án Khu dân cư P - huyện N - Thành phố H. Hợp đồng quy định vốn góp theo 05 đợt và bà M đã góp Đợt 1 (35% tổng giá trị hợp đồng) với số tiền là 144.550.000 đồng vào ngày 25/10/2004 (có chứng từ).

Đến ngày 28/12/2006, bà M và nhiều người góp vốn khác được phía Công ty thông báo về tiến độ của dự án tại Thông báo số: 144/CV-CNPN, trong đó có nói rõ: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình UBND huyện N phê duyệt ...”. Lúc đó bà M nghĩ rằng dự án đang thực hiện và bà sẽ nhận được nền nhà đúng như hợp đồng.

Nhưng sau đó phía Công ty đã dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không có một thông báo hay lời giải thích nào khác với bà M. Bà M đã tìm mọi cách để liên lạc với Công ty nhưng phía Công ty luôn lẫn tránh mọi câu hỏi của bà, kể cả là cá nhân hay tập thể đều không có được một cuộc tiếp xúc nào với cấp có thẩm quyền của công ty.

Sau này bà M mới biết được phía Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của Ủy ban nhân dân huyện N ngày 22/7/2008 với nội dung chính là: “...thu hồi việc thuận địa điểm đầu tư... vì chậm trễ trong việc triển khai dự án...” đối với 05 (năm) Công ty Đ, trong đó có Công ty V1 giao thông - Chi nhánh phía Nam. Từ đó, những người góp vốn như bà M đã nhiều lần liên lạc với phía Công ty nhưng không được giải quyết.

Do đó, bà M khởi kiện đối với Công ty TNHH MTV V1 có chi nhánh là Chi nhánh Công ty TNHH MTV V1 (địa chỉ tại số B B, Phường E, Quận E, Thành phố H) sau đây gọi tắt là Công ty T7: Buộc Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà hoặc phải trả lại cho bà 35% trị giá nền nhà theo cơ chế giá thị trường.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, bà Võ Chi M có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 92/HĐGV-CNPN ngày 28 tháng 10 năm 2004 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 (T7) hoàn trả lại cho bà Võ Chi M số tiền đã nộp là 144.550.000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) theo Phiếu thu số: 0001810 ngày 25 tháng 10 năm 2004.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của bà Võ Chi M kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) số tiền là 192.323.775 đồng.

- Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Cao Phụng Nguyên B (có bà Hồ Thị Minh T2 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 05/9/2007, ông B ký Hợp đồng góp vốn đầu tư (về việc xây dựng khu nhà ở tại Khu dân cư P - huyện N) số: 95/HĐGV-CNPN với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông – Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) để mua một nền nhà có diện tích 160m2 thuộc dự án Khu dân cư P - huyện N - Thành phố H. Hợp đồng quy định vốn góp theo 05 đợt và ông đã góp Đợt 1 (40% tổng giá trị hợp đồng) với số tiền là 206.720.000 đồng vào ngày 07/9/2007 (có phiếu thu số: 0000409 ngày 07/9/2007). Ngày 12/8/2005 ông B được Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số: 196/TB-PK3, trong đó có nói rõ: “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình UBND huyện N phê duyệt...”. Sau đó, phía Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo hay lời giải thích nào khác. Sau đó ông biết Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của UBND huyện N ngày 22/7/2008 về việc thu hồi việc chấp thuận địa điểm của Ủy ban nhân dân huyện N cho các nhà đầu tư thành phần của Dự án, trong đó có Công ty T7. Do vậy, ông B đã khởi kiện Công ty T7 tại Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè và hiện nay chuyển về Tòa án nhân dân Quận E để: buộc Công ty T7 tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà hoặc phải trả lại cho ông 40% trị giá nền nhà theo cơ chế giá thị trường. Ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Cao Phụng Nguyên B có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 95/HĐGV-CNPN ngày 05 tháng 9 năm 2007 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 hoàn trả lại cho ông Cao Phụng Nguyên B số tiền đã nộp là 206.720.000 đồng theo Phiếu thu số: 0000409 ngày 07/9/2007.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của ông Cao Phụng Nguyên B kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) số tiền là 275.040.960 đồng.

Ngày 20/7/2023, nguyên đơn ông B rút lại yêu cầu Công ty Cổ phần T8 – Người đã chuyển nhượng nền nhà tại Dự án Khu Dân cư P – Giai đoạn 3 trả lại số tiền chênh lệch đã nhận của nguyên đơn theo Biên nhận ngày 05/9/2007 là 183.200.000 đồng tiền chênh lệch.

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 7 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Võ Công M1 (có bà Hồ Thị Minh T2 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 26/10/2004 ông M1 có ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số : 125/HDDGV-CNPN với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) để mua 01 nền nhà có diện tích 120m2 thuộc Dự án khu dân cư P - huyện N - Thành phố H. Hợp đồng quy định góp vốn theo 05 đợt và ông đã góp Đợt 1 (35% tổng giá trị hợp đồng) với số tiền là: 143.815.000 đồng vào ngày 26/10/2004 (có chứng từ). Đến ngày 12/8/2005, ông được Công ty thông báo về tiến độ dự án tại Thông báo số: 196/TB-KP3 trong đó có nội dung “...đến nay Công ty chúng tôi đang tiến hành công tác đền bù và lập dự án quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 trình UBND huyện N phê duyệt...”. Sau đó, phía Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo hay lời giải thích nào khác. Sau đó ông biết Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của UBND huyện N ngày 22/7/2008 về việc thu hồi việc chấp thuận địa điểm của Ủy ban nhân dân huyện N cho các nhà đầu tư thành phần của Dự án, trong đó có Công ty T7. Do vậy, ông M1 đã khởi kiện Công ty T7 tại Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè và hiện nay chuyển về Tòa án nhân dân Quận E yêu cầu buộc Công ty trả lại cho ông số tiền 143.815.000 đồng cùng với lãi suất cơ bản của Ngân hàng N từ ngày nộp tiền cho Công ty ngày 26/10/2004 đến ngày bản án của Tòa án có hiệu lực thi hành. Ngày 05 tháng 5 năm 2023, ông Võ Công M1 có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 125/HĐGV-CNPN ngày 26 tháng 10 năm 2004 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 hoàn trả lại cho ông Võ Công M1 số tiền đã nộp là 143.815.000 đồng theo ghi nhận tại Điều 3 của Hợp đồng.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của ông Võ Công M1 kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) số tiền là 191.345.858 đồng.

Ngày 20/7/2023 nguyên đơn ông M1 rút yêu cầu bà Ngô Ánh T6 (Địa chỉ: P, Lô D, Chung cư P, Phường A, Quận B) – Người đã chuyển nhượng nền nhà tại Dự án Khu Dân cư P – Giai đoạn 3 trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn là 44.100.000 đồng tiền chênh lệch.

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 10 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị Mộng T (có bà Hồ Thị Minh T2 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 18/9/2007 và ngày 10/10/2007 bà T lần lượt ký với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 126/HĐGV-CNPN để mua 01 nền nhà có diện tích là 140m2 với số tiền đã góp đợt 1 là 165.200.000 đồng (Phiếu thu số: 0000510 ngày 15/10/2007) và Hợp đồng số: 197/HĐGV – CNPN để mua 01 nền nhà có diện tích là 144m2 với số tiền là 169.056.000 đồng (Phiếu thu số: 0001010 ngày 16/10/2007) thuộc dự án khu dân cư P - Nhà B. Cơ sở để bà ký Hợp đồng là Công văn số: 525/CV-UB ngày 23/12/2002 của Ủy ban nhân dân huyện N và Hợp đồng kinh tế số: 02/HĐ-NSG.PK3/03 ngày 15/5/2003 giữa Công ty Cổ phần P1 với Công ty V1 và XDCTGT – Chi nhánh phía Nam. Sau đó, phía Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo hay lời giải thích nào khác. Bà biết Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của UBND huyện N ngày 22/7/2008 về việc thu hồi việc chấp thuận địa điểm của Ủy ban nhân dân huyện N cho các nhà đầu tư thành phần của Dự án, trong đó có Công ty T7. Do vậy, bà T đã khởi kiện Công ty T7 tại Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè và hiện nay chuyển về Tòa án nhân dân Quận E yêu cầu buộc Công ty V1 – Chi nhánh phía Nam tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà có giá trị tương đương giá trị trong hợp đồng đã được ký kết. Ngày 05 tháng 5 năm 2023, bà Trần Thị Mộng T có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 126/HĐGV-CNPN ngày 18 tháng 9 năm 2007 và Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 197/HĐGV-CNPN ngày 10/10/2007 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng hoàn trả lại ông Lê Hoàng D số tiền đã nộp là 165.200.000 đồng theo Phiếu thu số: 0000520 ngày 15/10/2007 và số tiền 169.056.000 đồng theo phiếu thu số: 0001010 ngày 16/10/2007;
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của bà Phan Thị Kim C kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) đối với cả hai hợp đồng, tổng cộng là 444.727.608 đồng.

Ngày 20/7/2023, nguyên đơn bà T rút yêu cầu Công ty TNHH Đló ông Đào Việt H2 và ông Mai Quốc D1 tham gia) – Người đã chuyển nhượng nền nhà tại Dự án Khu Dân cư P – Giai đoạn 3 trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn theo các Thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng đất ngày 21/9/2007 là 527.560.000 đồng tiền chênh lệch.

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 10 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V (có bà Hồ Thị Minh T2 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 17/04/2007, bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V có ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 24/HĐGV-CNPN với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) để mua 01 nền nhà diện tích 144m2 thuộc dự án khu dân cư P - huyện N. Bà T1, ông V đã nộp tiền đợt 1 (40% giá trị Hợp đồng) cho Công ty T7 là 175.680.000 đồng ngày 03/5/2007 (Có Phiếu thu số: 0000305). Đến thời điểm hiện nay, Công ty T7 vẫn chưa tiến hành bàn giao nền cho bà T1 theo như thỏa thuận tại hợp đồng. Do Công ty T7 đã vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp nên bà T1, ông V đề nghị Toà án nhân dân Quận E, Thành phố H giải quyết buộc Công ty V1 – Chi nhánh phía Nam tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà có giá trị tương đương giá trị trong hợp đồng đã được ký kết. Ngày 05 tháng 5 năm 2023, bà T1, ông V có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 24/HĐGV-CNPN ngày 17/4/2007 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng hoàn trả lại cho bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V số tiền đã nộp là 175.680.00 đồng theo Phiếu thu số: 0000305 ngày 03 tháng 5 năm 2007.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của bà T1, ông V kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (16 năm, 16 ngày) số tiền là 380.522.000 đồng.

Ngày 20/7/2023, nguyên đơn bà T1, ông V rút yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy D2 – Người đã chuyển nhượng nền nhà tại Dự án Khu Dân cư P – Giai đoạn 3 trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn theo các Thỏa thuận chuyển nhượng đất ngày 31/03/2007 là 102.320.000 đồng tiền chênh lệch.

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trịnh Ngọc Ánh T3 (có ông Nguyễn Trung H1 đại diện ủy quyền) trình bày:

Ngày 06/9/2007, bà Trịnh Ngọc Ánh T3 có ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 99/HĐGV-CNPN với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) để mua 01 nền nhà diện tích 120m2 thuộc dự án khu dân cư P - huyện N. Bà T3 đã nộp tiền đợt 1 (40% giá trị Hợp đồng) cho Công ty T7 số tiền là 156.960.000 đồng ngày 08/9/2007 (Có chứng từ). Sau đó, phía Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo hay lời giải thích nào khác. Sau đó bà T3 biết Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của UBND huyện N ngày 22/7/2008 về việc thu hồi việc chấp thuận địa điểm của Ủy ban nhân dân huyện N cho các nhà đầu tư thành phần của Dự án, trong đó có Công ty T7. Đến thời điểm hiện nay, Công ty T7 vẫn chưa tiến hành bàn giao nền cho bà T3 theo như thỏa thuận tại hợp đồng. Do Công ty T7 đã vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp nên bà T3 đề nghị Toà án nhân dân Quận E, Thành phố H giải quyết buộc Công ty V1 – Chi nhánh phía Nam tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà có giá trị tương đương giá trị trong hợp đồng đã được ký kết. Ngày 04 tháng 5 năm 2023, bà T3 có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 99/HĐGV-CNPN ngày 06 tháng 9 năm 2007 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng hoàn trả lại cho bà Trịnh Ngọc Á Tuyết số tiền đã nộp là 156.960.000 đồng theo Phiếu thu số 0030A09 ngày 18/9/2007.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của bà Trịnh Ngọc Ánh T3 kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) số tiền là 208.835.280 đồng.

Ngày 10/8/2023, nguyên đơn bà T3 nộp đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu bà Phan Thị Q – Người đã chuyển nhượng nền nhà tại Dự án Khu Dân cư P – Giai đoạn 3 trả lại số tiền đã nhận của nguyên đơn theo Hợp đồng đặt cọc ngày 17/8/2007 và biên nhận ngày 05/9/2007 số tiền đã nhận là 183.600.000 đồng tiền chênh lệch.

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 10 năm 2010, đơn yêu cầu bổ sung, đơn xác định yêu cầu khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Đăng H trình bày:

Ngày 18/9/2007, ông Nguyễn Đăng H có ký Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 119/HĐGV-CNPN với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam (gọi tắt là Công ty T7) để mua 01 nền nhà diện tích 152m2 thuộc dự án khu dân cư P - huyện N. Ông H đã nộp tiền đợt 1 (40% giá trị Hợp đồng) cho Công ty T7 số tiền là 179.360.000 đồng ngày 18/9/2007 (Có chứng từ). Sau đó, phía Công ty dừng mọi việc thực hiện hợp đồng mà không thông báo hay lời giải thích nào khác. Sau đó ông được biết Công ty đã nhận được Thông báo số: 121/TB-VP của UBND huyện N ngày 22/7/2008 về việc thu hồi việc chấp thuận địa điểm của Ủy ban nhân dân huyện N cho các nhà đầu tư thành phần của Dự án, trong đó có Công ty T7. Đến thời điểm hiện nay, Công ty T7 vẫn chưa tiến hành bàn giao nền cho ông H theo như thỏa thuận tại hợp đồng. Do Công ty T7 đã vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp nên ông H đề nghị Toà án nhân dân Quận E giải quyết buộc Công ty V1 – Chi nhánh phía Nam tiếp tục thực hiện hợp đồng bàn giao nền nhà có giá trị tương đương giá trị trong hợp đồng đã được ký kết. Ngày 04 tháng 5 năm 2023, ông H có đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Quận E giải quyết những vấn đề cụ thể như sau:

  • Tuyên bố Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 119/HĐGV-CNPN ngày 18 tháng 9 năm 2007 là vô hiệu.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đăng H số tiền đã nộp là 179.360.000 đồng.
  • Buộc Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng thanh toán tiền lãi do chậm hoàn trả số tiền đã nhận của ông Nguyễn Đăng H kể từ ngày 22 tháng 7 năm 2008 (là ngày Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố H có Thông báo số: 121/TB-VP về việc thu hồi chủ trương đầu tư) đến ngày Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng trả xong tiền, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định là 9%/năm, tạm tính đến ngày 04 tháng 5 năm 2023 (14 năm 9 tháng 12 ngày) là 238.100.400 đồng.

- Bị đơn là Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P đã được Toà án thực hiện việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Nguyễn Trung H1 trình bày tiền góp vốn mà bà Trịnh Ngọc Ánh T3 đã nộp cho Công ty V1 – Chi nhánh phía Nam theo Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 99/HĐGV-CNPN ngày 06 tháng 9 năm 2007 là tài sản chung của vợ chồng ông trong thời kỳ hôn nhân, do đó ông thống nhất với yêu cầu của bà T3 và không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 211/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận E, Thành phố H quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 92, 121, 128, 137 và Điều 305 của Bộ luật Dân sự năm 2005 ; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 25 Luật Doanh nghiệp năm 1999 ; Điều 37 của Luật Doanh nghiệp năm 2005; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là bà Võ Chi M, ông Cao Phụng Nguyên B, bà Trần Thị Mộng T, ông Võ Công M1, bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V, bà Trịnh Ngọc Ánh T3, ông Nguyễn Đăng H.

[1.1] Tuyên bố các Hợp đồng góp vốn đầu tư là vô hiệu:

  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 92/HĐGV-CNPN ngày 28/10/2004 giữa bà Võ Chi M với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam;
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 95/HĐGV-CNPN ngày 05/9/2007 giữa ông Cao Phụng Nguyên B với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam;
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 125/HDDGV-CNPN ngày 26/10/2004 giữa ông Võ Công M1 với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 126/HĐGV-CNPN ngày 18/9/2007 giữa bà Trần Thị Mộng T với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 24/HĐGV-CNPN ngày 17/04/2007 giữa bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 99/HĐGV-CNPN ngày 06/9/2007 giữa bà Trịnh Ngọc Ánh T3 với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số 119/HĐGV-CNPN ngày 18/9/2007giữa ông Nguyễn Đăng H với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.

[1.2] Công ty TNHH Một thành viên V1 có nghĩa vụ hoàn trả cho các nguyên đơn các khoản tiền sau:

  • Hoàn trả cho bà Võ Chi M số tiền góp vốn 144.550.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 197.563.713 đồng. Tổng cộng 342.113.713 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu một trăm mười ba ngàn bảy trăm mười ba đồng).
  • Hoàn trả cho ông Cao Phụng Nguyên B số tiền góp vốn 206.720.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 282.534.560 đồng. Tổng cộng 489.254.560 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu hai trăm năm mươi bốn ngàn năm trăm sáu mươi đồng).
  • Hoàn trả cho ông Võ Công M1 số tiền góp vốn 143.815.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 196.559.151 đồng. Tổng cộng 340.374.151 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn một trăm năm mươi mốt đồng).
  • Hoàn trả cho bà Trần Thị Mộng T số tiền góp vốn 334.256.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 456.844.388 đồng. Tổng cộng 616.774.200 đồng (Sáu trăm mười sáu triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm đồng).
  • Hoàn trả cho bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V số tiền góp vốn 175.680.000 đồng và và tiền lãi do chậm trả 240.110.640 đồng. Tổng cộng 415.790.640 đồng (Bốn trăm mười lăm triệu bảy trăm chín mươi ngàn sáu trăm bốn mươi đồng).
  • Hoàn trả cho bà Trịnh Ngọc Á Tuyết số tiền góp vốn 156.960.000 đồng và và tiền lãi do chậm trả 214.525.080 đồng. Tổng cộng 371.485.080 đồng (Ba trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn không trăm tám mươi đồng).
  • Hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng H số tiền góp vốn 179.360.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 245.140.280 đồng. Tổng cộng 424.500.280 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn hai trăm tám mươi đồng).

Việc trả tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày một trong các nguyên đơn như bà Võ Chi M, ông Cao Phụng Nguyên B, bà Trần Thị Mộng T, ông Võ Công M1, bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V, bà Trịnh Ngọc Ánh T3, ông Nguyễn Đăng H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Mộng T đối với Công ty TNHH Đ1 (có ông Đào Việt H2 và ông Mai Quốc D1 tham gia) theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Cao Phụng Nguyên B đối với Công ty Cổ phần T8 theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Võ Công M1 đối với bà Ngô Ánh T6 theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trịnh Ngọc Ánh T3 đối với bà Phan Thị Q theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 10/8/2023.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 3.000.291.624 đồng là 92.005.832 đồng (Chín mươi hai triệu không trăm không năm ngàn tám trăm ba mươi hai đồng).

3.2. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho các nguyên đơn:

  • H3 lại cho bà Võ Chi M số tiền 5.788.000 đồng (Năm triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02098 ngày 22/02/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Võ Công M1 số tiền 5.762.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02088 ngày 17/02/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Nguyễn Đăng H số tiền 11.515.000 đồng (Mười một triệu năm trăm mười lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02077 ngày 26/01/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Trịnh Ngọc Á T3 số tiền 3.924.000 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi bốn ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02243 ngày 29/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Hoàng Thục T1 số tiền 6.950.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02227 ngày 14/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Cao Phụng Nguyên B số tiền 11.127.093 đồng (Mười một triệu một trăm hai mươi bảy ngàn không trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02244 ngày 29/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Trần Thị Mộng T số tiền 20.538.500 đồng (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02143 ngày 21/3/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/11/2023, bị đơn Công ty TNHH Một thành viên V1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin vắng mặt
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều chấp hành và tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 211/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận E, Thành phố H

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Ngày 16/11/2023 Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng làm đúng hình thức, trong hạn luật định, Công ty TNHH Một thành viên V1 đã đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên kháng cáo được công nhận về mặt hình thức.

- Nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn vắng mặt, Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt

[2] Về nội dung kháng cáo:

Xét nội dung đơn kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng với lý do kháng cáo đưa ra là Giám đốc Cchi nhánh phía Nam của Công ty tự ý thực hiện hành vi không được ủy quyền của công ty, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn, xác định trách nhiệm của người đứng đầu chi nhánh thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

Các Hợp đồng góp vốn đầu tư được ký kết giữa các nguyên đơn với chi nhánh của bị đơn Công ty V1 là Chi nhánh phía Nam đối với dự án Khu dân cư P - huyện N - Thành phố H do chính Công ty V1 là chủ đầu tư.

Căn cứ Điều 92 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì “chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp” và “pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện”. Vì vậy, Công ty V1 có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh của Công ty X, thực hiện, cụ thể là các giao dịch thông qua Hợp đồng góp vốn đầu tư được xác lập giữa các nguyên đơn với chi nhánh của Công ty có tranh chấp trong vụ án này.

Bị đơn Công ty TNHH Một thành viên V1 kháng cáo cho rằng Giám đốc Chi nhánh phía Nam tự ý thực hiện hành vi không được ủy quyền của Công ty để không thừa nhận quyền, nghĩa vụ của Công ty đối với các giao dịch được xác lập bởi Chi nhánh phía Nam của Công ty là không có căn cứ pháp luật. Đối với ý kiến của bị đơn về việc buộc trách nhiệm của người đứng đầu chi nhánh ông Nguyễn Văn P thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật là việc nội bộ của Công ty, phía Công ty T9 đã có đơn tố cáo và không thuộc thẩm quyền xem xét của Tòa án trong vụ án này.

Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính hợp pháp của các giao dịch được xác lập, từ đó xác định giao dịch vô hiệu và xử lý hậu quả của giao dịch vô hiệu, để buộc bị đơn, là pháp nhân có chi nhánh xác lập giao dịch, hoàn trả lại tiền đã nhận là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình; ngoài ra, các lý do kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng nêu trên là không có căn cứ và việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở, áp dụng đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.

[7] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng không được chấp nhận và bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 92, 121, 128, 137 và Điều 305 của Bộ luật Dân sự năm 2005 ; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 25 Luật Doanh nghiệp năm 1999 ; Điều 37 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 ; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 211/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận E, Thành phố H.

2. Tuyên xử:

2.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là bà Võ Chi M, ông Cao Phụng Nguyên B, bà Trần Thị Mộng T, ông Võ Công M1, bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V, bà Trịnh Ngọc Ánh T3, ông Nguyễn Đăng H.

2.1.1. Tuyên bố các Hợp đồng góp vốn đầu tư là vô hiệu:

  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 92/HĐGV-CNPN ngày 28/10/2004 giữa bà Võ Chi M với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam;
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 95/HĐGV-CNPN ngày 05/9/2007 giữa ông Cao Phụng Nguyên B với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam;
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 125/HDDGV-CNPN ngày 26/10/2004 giữa ông Võ Công M1 với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 126/HĐGV-CNPN ngày 18/9/2007 giữa bà Trần Thị Mộng T với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 24/HĐGV-CNPN ngày 17/04/2007 giữa bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 99/HĐGV-CNPN ngày 06/9/2007 giữa bà Trịnh Ngọc Ánh T3 với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.
  • Hợp đồng góp vốn đầu tư số: 119/HĐGV-CNPN ngày 18/9/2007giữa ông Nguyễn Đăng H với Công ty V1 và Xây dựng công trình giao thông - Chi nhánh phía Nam.

2.1.2. Công ty TNHH Một thành viên V1 có nghĩa vụ hoàn trả cho các nguyên đơn các khoản tiền sau:

  • Hoàn trả cho bà Võ Chi M số tiền góp vốn 144.550.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 197.563.713 đồng. Tổng cộng 342.113.713 đồng (Ba trăm bốn mươi hai triệu một trăm mười ba ngàn bảy trăm mười ba đồng).
  • Hoàn trả cho ông Cao Phụng Nguyên B số tiền góp vốn 206.720.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 282.534.560 đồng. Tổng cộng 489.254.560 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu hai trăm năm mươi bốn ngàn năm trăm sáu mươi đồng).
  • Hoàn trả cho ông Võ Công M1 số tiền góp vốn 143.815.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 196.559.151 đồng. Tổng cộng 340.374.151 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn một trăm năm mươi mốt đồng).
  • Hoàn trả cho bà Trần Thị Mộng T số tiền góp vốn 334.256.000 đồng và tiền lãi do chậm trả 456.844.388 đồng. Tổng cộng 616.774.200 đồng (Sáu trăm mười sáu triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn hai trăm đồng).
  • Hoàn trả cho bà Hoàng Thục T1, ông Đoàn Quốc V số tiền góp vốn 175.680.000 đồng và và tiền lãi do chậm trả 240.110.640 đồng. Tổng cộng 415.790.640 đồng (Bốn trăm mười lăm triệu bảy trăm chín mươi ngàn sáu trăm bốn mươi đồng).
  • Hoàn trả cho bà Trịnh Ngọc Á Tuyết số tiền góp vốn 156.960.000 đồng và và tiền lãi do chậm trả 214.525.080 đồng. Tổng cộng 371.485.080 đồng (Ba trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn không trăm tám mươi đồng).
  • Hoàn trả cho ông Nguyễn Đăng H số tiền góp vốn 179.360.000 đồng và và tiền lãi do chậm trả 245.140.280 đồng. Tổng cộng 424.500.280 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn hai trăm tám mươi đồng).

Việc trả tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày một trong các nguyên đơn như bà Võ Chi M, ông Cao Phụng Nguyên B, bà Trần Thị Mộng T, ông Võ Công M1, bà Hoàng Thục T1 và ông Đoàn Quốc V, bà Trịnh Ngọc Ánh T3, ông Nguyễn Đăng H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2.2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Mộng T đối với Công ty TNHH Đ1 (có ông Đào Việt H2 và ông Mai Quốc D1 tham gia) theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Cao Phụng Nguyên B đối với Công ty Cổ phần T8 theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Võ Công M1 đối với bà Ngô Ánh T6 theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 20/7/2023.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Trịnh Ngọc Ánh T3 đối với bà Phan Thị Q theo Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 10/8/2023.

2.3. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.3.1. Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 3.000.291.624 đồng là 92.005.832 đồng (Chín mươi hai triệu không trăm không năm ngàn tám trăm ba mươi hai đồng).

2.3.2. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho các nguyên đơn:

  • H3 lại cho bà Võ Chi M số tiền 5.788.000 đồng (Năm triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02098 ngày 22/02/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Võ Công M1 số tiền 5.762.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02088 ngày 17/02/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Nguyễn Đăng H số tiền 11.515.000 đồng (Mười một triệu năm trăm mười lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02077 ngày 26/01/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Trịnh Ngọc Á T3 số tiền 3.924.000 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi bốn ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02243 ngày 29/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Hoàng Thục T1 số tiền 6.950.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02227 ngày 14/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho ông Cao Phụng Nguyên B số tiền 11.127.093 đồng (Mười một triệu một trăm hai mươi bảy ngàn không trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02244 ngày 29/6/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.
  • H3 lại cho bà Trần Thị Mộng T số tiền 20.538.500 đồng (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi tám ngàn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số: AC/2010/02143 ngày 21/3/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố H.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH Một thành viên V1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm Công ty đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010987 ngày 29/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận E, Công ty TNHH Một thành viên V1 và Xây dựng đã nộp đủ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP.H;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.H;
  • - VKSND TP.H;
  • - TAND Quận E;
  • - Chi cục THADS huyện Nhà Bè;
  • - Chi cục THADS Quận E;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tú Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 476/2024/DS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng góp vốn

  • Số bản án: 476/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 211/2023/DS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận E, Thành phố H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger