Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 476/2025/DS-PT
Ngày 28 - 11 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Lê Phan Công Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 418/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 469/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ú, sinh năm 1976; CCCD số: [...] (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968; CCCD số: [...] (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; CCCD số: [...] (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Ông B1, xã K, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị C (Nguyễn Thị P), sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Ông Phạm Thanh V, sinh năm 1984, địa chỉ: Ấp Ô, xã K, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Phan Thị Ú trình bày:

Dây hụi ngày 15/02/2022 (al), ông B, bà H có mở hụi mệnh giá 2.000.000 đồng mỗi tháng khui 01 kỳ ngày 15 hàng tháng, có 34 chưng bà và ông B, bà H có thoả thuận hùn vốn hụi bà ½ chưng hụi đã đóng được 17 kỳ thì bà H, ông B đình hụi, bà yêu cầu ông B, bà H trả cho bà ½ chưng hụi bằng số tiền 17.000.000 đồng, bà đồng ý trừ tiền số tiền hoa hồng 500.000 đồng, yêu cầu bà H, bà B trả số tiền 16.500.000 đồng.

Dây hụi mở ngày 20/10/2021 âm lịch do bà H, ông B làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, có 32 hụi viên, trong đó có hụi viên là ông Phạm Thanh V, bà Nguyễn Thị C (Nguyễn Thị P) mỗi người tham gia 01 chưng, bà H, ông B bán cho bà chưng hụi của ông V1, bà P, thời điểm bán hụi thì hụi đã bỏ một kỳ. Bà đã đóng hụi cho bà H, ông B được 21 kỳ thì đình hụi, bà đồng ý trừ tiền hoa hồng của 02 chưng là 2.000.000 đồng, bà yêu cầu ông B, bà H trả cho bà hai chưng hụi đã bán 82.000.000 đồng.

Ngày 06/5/2022 ông B có vay mượn của bà tổng số tiền 30.000.000 đồng (mượn 15.000.000 đồng, vay 15.000.000 đồng). Ông B đã trả cho bà hai lần được 10.500.000 đồng như vậy còn thiếu 19.500.000 đồng. Bà yêu cầu ông B bà H trả cho bà 19.500.000 đồng.

Trước đây bà có cho vợ chồng ông B, bà H vay của bà 47.000.000 đồng, lãi suất 5 phân (5%/tháng), đã trả lãi 3 tháng (mỗi tháng 2.350.000 đồng) việc vay không làm biên nhận, đến ngày 07/12/2022 âm lịch thì bà mới yêu cầu ông B làm biên nhận lại đối với số tiền đã vay, việc đưa tiền trực tiếp cho ông B, bà H, đưa tiền tại nhà bà chỉ có bà và vợ chồng ông B, bà xác định không có ép buộc ông B ký biên nhận và ông B tự nguyện ký biên nhận tiền.

Trước đây bà có mở hụi, do bà làm chủ hụi bà H có tham gia hụi, hiện tại hụi đã mãn và còn thiếu 8.800.000 đồng, bà yêu cầu bà H, ông B trả 8.800.000 đồng.

Tổng số tiền bà yêu cầu ông B, bà H trả: 173.800.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà thừa nhận có hùn hụi với bà Ú dây hụi mở ngày 15/02/2022 âm lịch như bà Ú trình bày, hụi đã đình bà chỉ đồng ý trả bà Ú 9.000.000 đồng.

Đối với dây hụi mở ngày 20/10/2021 âm lịch, dây hụi loại 2.000.000 đồng, bà C và ông V mỗi người tham gia một chưng, sau đó giữa bà C, ông V và bà Ú có thoả thuận bán hụi cho bà Ú, hàng tháng bà C, ông Vũ Đ hụi cho bà mỗi người 2.000.000 đồng, phần trên lệch tiền hụi chết và hụi sống thì bà Ú lấy đóng hụi cho bà Ú, việc thoả thuận hụi giữa bà Ú, với ông V và bà C bà có chứng kiến và có thống nhất. Hiện tại hụi đã đình, đối với yêu cầu của bà Ú thì bà không đồng ý vì bà C và ông V còn thiếu hụi bà nên đã trừ hai chưng hụi trên, bà C và ông V phải có tách nhiệm trả nợ cho bà Ú.

Ngày 19/02/2019 (al), bà có vay của bà Ú 47.000.000 đồng, lãi suất 6%/tháng, mỗi tháng đóng cho bà Ú 2.850.000 đồng, đóng tới tháng 5/2023 âm lịch (hơn 50 tháng) bằng số tiền 142.100.000 đồng, việc vay có làm biên nhận, do bà Út G, ông B không biết, mục đích vay là hỏi dùm cho người khác và tràn hụi, không có sử dụng vào mục đích cho cho gia đình, bà xác định là nợ riêng của bà, bà yêu cầu bà Ú cung cấp biên nhận vay tiền của bà cho Toà án, nếu không cung cấp biên nhận thì bà không đồng ý trả, yêu cầu tính lãi theo quy định nhà nước và đối trừ tiền lãi bà đã đóng cho bà Ú.

Trước đây bà có vô dùm bà C là chị bà 01 chưng hụi do bà Ú làm chủ hụi, hụi đã mãn và bà còn thiếu 8.800.000 đồng và đồng ý trả với điều kiện khi nào bà lấy được tiền bà C thì bà trả bà Ú.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Đối với việc giữa bà Ú, bà H thoả thuận hụi ông không biết, ông chỉ là người chứng kiến, không đồng ý theo yêu cầu của bà Ú yêu cầu ông cùng với bà H trả 16.500.000 đồng.

Đối với yêu cầu của bà Ú yêu cầu ông trả 19.500.000 đồng thì ông không đồng ý, lý do trước đây bà Ú có kêu bà C bán chiếc ghe biển giá 30.000.000 đồng (Trong đó 15.000.000 đồng không tính lãi, còn lại 15.000.000 đồng đóng lãi mỗi tháng 900.000 đồng), bà C không có tiền nên kêu ông đứng bảo lãnh cho bà C, bà C đã đưa ông trả cho bà Ú tổng 10.000.000 đồng (trong đó 5.500.000 đồng là tiền vốn, 4.500.000 đồng là đóng lãi).

Sau khi bà Ú khởi kiện ông thì ông về có gặp bà C thì bà C đã bán chiếc ghe và trả thêm cho bà Ú 5.000.000 đồng, hai bên đã làm tờ giao kèo nhận nợ lại, ông không có liên quan gì việc bà C thiếu tiền ghe của bà Ú, ông không đồng ý theo yêu cầu của bà Ủ.

Đối số tiền bà H thiếu bà Ú 8.800.000 đồng ông không đồng ý trả vì không có liên quan đến ông.

Trước đây ngày 07/12/2022 vợ chồng bà Ú và con bà Ú (Chị X) có đến gặp ông, lúc này chỉ có một mình ông ở nhà, vợ chồng bà Ú nói là bà H có vay của bà Ú 47.000.000 đồng, thì ông hỏi vay khi nào thì bà Ú nói vay 2 hay 3 năm rồi, có nói đóng lãi đầy đủ, nhưng 3 tháng này không có đóng lãi, bà Ú nói là có làm biên nhận nhưng chỉ có bà H làm biên nhận không có tên ông, bà Ú nói là ông đồng ý trả thì làm giấy cho bà Ú, do ông mắt không nhìn rõ nên chị X con của bà Ú viết biên nhận cho ông ký, việc ông ký biên nhận không tự nguyện bị vợ chồng bà Ú và con bà Ú ép buộc ông. Yêu cầu bà Ú phải đem giấy biên nhận vợ ông vay năm 2019, việc bà H vay tiền của bà Ú không đem về gia đình chỉ tiêu, chỉ hỏi dùm cho ông V1 và bà Ý và một phần tràn hụi, ông không đồng ý trả, trách nhiệm trả nợ là của bà H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà thừa nhận có tham gia 01 chưng hụi của dây hụi mở ngày 20/10/2021 âm lịch do bà H làm chủ hụi, sau đó bà nhượng chưng hụi này cho bà Ú số tiền 34.100.000 đồng, bà H thống nhất, hàng tháng bà đóng hụi cho bà H, sau đó bà H có giao hụi đầy đủ cho bà Ú không thì bà không biết, số lần bà đã đóng 21 kỳ mỗi kỳ 2.000.000 đồng, số tièn hàng tháng bà Ú đã hưởng lợi, bà đồng ý có trách nhiệm đóng tiền hụi cho bà Ú.

Trước đây bà có thoả thuận mua chiếc ghe của bà Ú giá 30.000.000 đồng, bà đã trả cho bà Ú nhiều lần còn thiếu 24.500.000 đồng, sau đó giữa bà và bà Ú thoả thuận bà trả cho bà Ú thêm 5.000.000 đồng còn thiếu 19.500.000 đồng hai bên có làm tờ giao kèo nợ, số tiền bà thiếu bà Ú không có liên quan gì đến ông B. Do điều kiện đi lại khó khăn bà đề nghị toà án xét xử vắng mặt ở các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm nếu có.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thanh V trình bày:

Năm 2021 ông có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, ông tham gia một chưng, đến kỳ mở hụi thứ hai thì không bỏ hụi được nên ông bán lại cho bà Ú số tiền 43.100.000 đồng có sự chứng kiến và thống nhất của bà H, hàng tháng ông đóng hụi chết 2.000.000 đồng ông đã đóng hơn 20 kỳ có lúc ông gửi tiền về đưa cho bà H, bà Ú, việc thoả thuận chỉ nói miệng, sau đó bà H đình hụi ông không đóng hụi nửa, ông không có tranh chấp gì với bà Ú. Do điều kiện đi lại khó khăn bà đề nghị toà án xét xử vắng mặt ở các phiên toà sơ thẩm

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau quyết định:

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ú. Buộc ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H trả cho bà Phan Thị Ú số tiền 154.300.000 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ú về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H trả số tiền 19.500.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H có nộp đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với khoản nợ 9.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Bị đơn, ông Nguyễn Văn B tranh luận: Ông làm biên nhận nhận nợ là do bà Ú yêu cầu.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị H tranh luận: Bà chỉ đồng ý trả 9.000.000 đồng theo đơn kháng cáo.

Nguyên đơn, bà Phan Thị Ú tranh luận: Các khoản nợ này là của ông B, bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 117/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bà ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Dây hụi ngày 15/02/2022 (al), loại hụi 2.000.000 đồng do bà H, ông B làm chủ. Bà H thừa nhận có hùn với bà Ú tham gia 1 chân (mỗi người ½ chân), đã đóng được 17 lần thì đình hụi được số tiền 34.000.000 đồng. Như vậy, bà Ú được hưởng số tiền 17.000.000 đồng. Bà Ú đồng ý đối trừ tiền hoa hồng 500.000 đồng. Án sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 16.500.000 đồng là có căn cứ.
  2. [2] Dây hụi ngày 20/10/2021(al), loại hụi 2.000.000 đồng do bà H, ông B làm chủ. Dây hụi này, ông Phạm Thanh V1, bà Nguyễn Thị C (Nguyễn Thị P) mỗi người tham gia 01 chân. Ông V1, bà C mỗi người bán cho bà Ú 01 chân hụi được sự đồng ý của bà H. Dây hụi này khui được 21 lần thì đình. Như vậy, số tiền nguyên đơn được nhận 42.000.000 đồng x 2 chân = 84.000.000 đồng. Bà Ú đồng ý đối trừ tiền hoa hồng 2.000.0000 đồng. Án sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 82.000.000 đồng là có căn cứ.
  3. [3] Bà H thừa nhận có thiếu tiền chơi hụi của bà Ú 8.800.000 đồng nhưng cho rằng chơi dùm bà C. Trình bày này của bà H không có chứng cứ chứng minh. Bà Ú không thừa nhận. Hơn nữa, tại Biên bản hòa giải ngày 20 tháng 8 năm 2024 bà H thừa nhận còn thiếu bà Ú 8.800.000 đồng (Bút lục 33). Án sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 8.800.000 đồng là có căn cứ.
  4. [4] Đối với số tiền vay 47.000.000 đồng: Bà H cho rằng bà H vay của bà Ú ngày 19/02/2019 (al) với lãi suất 6%/tháng nên mỗi tháng đóng lãi 2.850.000 đồng và đã đóng lãi được số tiền 142.100.000 đồng. Trình bày của bà H không có chứng cứ chứng minh. Bà Ú không thừa nhận. Đến ngày, 07 tháng 12 năm 2022, ông B đã làm biên nhận vay bà Ú số tiền 47.000.000 đồng là sự thừa nhận của ông B. Án sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 47.000.000 đồng là có căn cứ.
  5. [5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ông B, bà H mỗi người có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 117/2025/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ú. Buộc ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H trả cho bà Phan Thị Ú số tiền 154.300.000 đồng (Một trăm năm mươi bốn triệu, ba trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành xong khoản thiền trên thì phải trả khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ú về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H trả số tiền 19.500.000 đồng.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    Bà Phan Thị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 975.000 đồng. Bà Ú có nộp tạm tứng án phí số tiền 4.783.000 đồng tại biên lai số 0005329 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Cà Mau) được đối trừ, bà Ú được nhận lại số tiền 3.808.000 đồng.

    Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.715.000 đồng (chưa nộp).

  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 9 năm 2025, ông B, bà H mỗi người có tạm ứng 300.000 đồng theo các Biên lai thu số 0011700, 0011699, được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau;
  • - Phòng THADS Khu vực 3 – Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 476/2025/DS-PT ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi

  • Số bản án: 476/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng số tiền bà yêu cầu ông B, bà H trả: 173.800.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger