Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 475/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07/03/2025

V/v Ly hôn (không đăng ký kết hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2658/2024/HNST ngày 18 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 848/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số G Đường số B - T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số nhà I, tổ D, khu phố E, đường P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/6/2018, bản tự khai, biên bản ghi nhận ý kiến bà Trần Thị Thu H là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Trần Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới và bà nhớ là bà có đến Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để đăng ký kết hôn nhưng bà không có giữ giấy chứng nhận kết hôn và hiện nay phường N cũng không có lưu trên sổ đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến tháng 4/2003 thì mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân là do vợ chồng không hoà hợp, thường xuyên bất hoà, từ đó cả hai thiếu sự quan tâm, trách nhiệm đối với nhau. Nay bà không thể cung cấp chứng cứ thể hiện ông bà có đăng ký kết hôn nên bà đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận bà và ông Trần Ngọc T là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Thị Phương T1, sinh ngày 21/4/2003, đã trưởng thành.

Tài sản chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai, bản tự khai bị đơn ông Trần Ngọc T trình bày: Ông thừa nhận thời gian chung sống vợ chồng đúng như bà H trình bày. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân của việc không đăng ký kết hôn là đúng như bà H trình bày, ông bà có đến phường đăng ký kết hôn nhưng ông bà không có nhận giấy chứng nhận kết hôn và phường cũng không lưu hồ sơ nên ông không có chứng cứ gì chứng minh ông bà có đăng ký kết hôn nên nay ông đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận ông và bà H là vợ chồng.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Thị Phương T1, sinh ngày 21/4/2003, đã trưởng thành.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1] Về tố tụng: Xét, quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn”, do bà H và ông T không đăng ký kết hôn căn cứ Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Ngọc T cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án, vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T xác định ông bà tìm hiểu và tự nguyện chung sống như vợ chồng với nhau vào năm 2002 theo ông bà là có đi đến Ủy ban nhân dân xã N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để đăng ký kết hôn nhưng ông bà không được giữ Giấy chứng nhận kết hôn và hiện nay Ủy ban nhân dân xã N cũng không có lưu tên ông bà trong sổ đăng ký kết hôn và ông bà cũng không có chứng cứ gì khác chứng minh ông bà có đăng ký hết hôn. Cuộc sống chung của ông bà hạnh phúc thời gian đầu, đến tháng 4/2003 thì mâu thuẫn trầm trọng nên ông bà đã ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Sau thời gian ly thân cả hai xét thấy không còn khả năng khôi phục cuộc sống chung, ông bà cũng không đồng ý đăng ký kết hôn với nhau nữa mặc dù có đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình thì thời gian chung sống như vợ chồng của ông bà không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay ông bà xin ly hôn căn cứ Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình Tòa án không công nhận quan hệ giữa ông bà là vợ chồng.

Về con chung: Bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T xác định có 01 người con chung tên Trần Thị Phương T1, sinh ngày 21/4/2003, đã trưởng thành.

Tài sản chung: Bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Án phí hôn nhân gia đình: Bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 14; Điều 15; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về quan hệ hôn nhân:

Tuyên bố không công nhận bà Trần Thị Thu H và ông Trần Ngọc T là vợ chồng.

2/ Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Thị Phương T1, sinh ngày 21/4/2003, đã trưởng thành.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

4/ Về án phí: Bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tạm nộp theo biên lai số 0067271 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Quyền và thời hạn kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 475/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn (không đăng ký kết hôn)

  • Số bản án: 475/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (không đăng ký kết hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận bà Hồng và ông Trí là vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger