Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 475/2024/DSPT

Ngày: 18/11/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Dung
  • - Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
  • Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Bùi Trung Nam – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024.

Do Bản án sơ thẩm số 43/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn có kháng cáo, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
  • Địa chỉ trụ sở: số A P, phường C, quận P, Thành Phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn K
  • Văn bản ủy quyền ngày 23/10/2024 (có mặt).
  • Địa chỉ chi nhánh: số A, M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1972 (vắng mặt).
    2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970 (vắng mặt).
    3. Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    4. Ông Ngô Thanh T, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).
    5. Địa chỉ: số I đường Đ, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

  • Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ do ông N đại diện trình bày: Năm 2021 Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh C (gọi tắt là D) với ông Nguyễn Quang H đã ký kết các hợp đồng tín dụng.

  1. Hợp đồng tín dụng số K.0004/1221 ký ngày 14/6/2021, cụ thể như sau:

    Số tiền vay: 200.000.000 đồng ; lãi suất vay trong hạn 8,5%/năm và được điều chỉnh định kỳ hàng tháng theo quy định của D; thời hạn vay 60 tháng (từ ngày 14/6/2021 đến ngày 15/6/2026); mục đính vay thanh toán tiền mua nhà và đất ở.

  2. Biện pháp bảo đảm: thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021.
  3. Trong quá trình vay vốn ông H không thực hiện thanh toán đúng như thỏa thuận, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, thông báo. Tuy nhiên, ông H đã không thực hiện thanh toán đúng như thỏa thuận của hợp đồng. Tính đến ngày 25/4/2023 ông H còn nợ D tổng số tiền 238.648.007 đồng, cụ thể :
    • Tiền gốc : 200.000.000 đồng.
    • Lãi trong hạn : 30.309.783 đồng.
    • Lãi quá hạn : 8.338.224 đồng.

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày trên D khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xem xét giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Buộc ông Nguyễn Quang H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho D tổng số tiền còn thiếu là 238.648.007 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm lẽ bảy đồng). Trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, lãi trong hạn: 30.309.783 đồng, lãi quá hạn : 8.338.224 đồng (tạm tính đến ngày 25/4/2023) và yêu cầu tính lãi từ ngày 26/4/2023 đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng số K.0004/1221 ký ngày 14/6/2021.
  2. Trường hợp ông Nguyễn Quang H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì D có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho D, tài sản bảo đảm cụ thể là: Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 do ông Nguyễn Quang H đứng tên sử dụng.

Bị đơn là ông Nguyễn Quang H trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện ngân hàng TMCP Đ, giữa ông và Ngân hàng TMCP Đ có ký kết hợp đồng tín dụng, hiện tại ông còn nợ Ngân hàng 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) nợ gốc và 38.648.007 đồng (Ba mươi tám triệu, sáu trăm bốn mươi tám ngàn không trăm lẽ bảy đồng) tiền lãi.

Hiện tại gặp khó khăn nên ông yêu cầu xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi trả tất nợ vốn và nợ lãi. Yêu cầu ngân hàng cho xin xóa phần lãi phát xin tiếp theo.

Đối với phần đất thế chấp cho phía Ngân hàng hiện tại có 01 căn nhà do người chủ đất cũ ở là bà Nguyễn Thị Bé B đang ở.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bé B: Bà và chồng là ông Nguyễn Văn H1 trước đây có vay của ông Ngô Thanh T, sinh năm 1984 địa chỉ: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ số tiền 100.000.000 đồng, khi vay nợ thì ông T có nói là ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/8/2020 để làm tin khi có tiền trả thì ông T sẽ ký trả lại đất cho bà và ông H1, khi vay thực tế bà và ông H1 chỉ nhận có 80.000.000 đồng, khi vay thì có thỏa thuận 100.000.000 đồng thì mỗi tháng đóng 5.000.000 đồng tiền lãi, bà B và ông H1 có đóng lãi cho ông T nhưng số tiền cụ thể không biết. Bà B thừa nhận bà và ông H1 có ký tên vào Hợp đồng chuyển nhượng với ông T (thực tế là vay nợ), B1 chỉ biết vay tiền ông T, chứ không biết ông H. Bà khẳng định giữa bà và ông H không có thỏa thuận thuê nhà đất, chữ ký trong hợp đồng thuê nhà và đất ngày 04/6/2021 với ông H và bản thỏa thuận ngày 15/6/2021 giữa Ngân hàng Đ, ông Nguyễn Quang H và bà Nguyễn Thị Bé B, thì chữ ký và chữ viết trong 02 văn bản này không phải là của bà. Bà sẽ liên hệ với ông H để thỏa thuận về việc trả nợ để bà và ông H1 chuộc lại đất từ ông H, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản bà sẽ có ý kiến phản hồi về việc thỏa thuận với ông H để Tòa án biết để có hướng giải quyết vụ án.

*Tại biên bản lấy khai ngày 17/10/2023 ông Ngô Thanh T trình bày: Bà Nguyễn Thị Bé B và ông Nguyễn Văn H1 là người quen biết ngoài xã hội còn đối với ông Nguyễn Quang H thì ông không biết. Vào khoảng năm 2019 ông có cho bà B2 B và ông H1 vay số tiền 100.000.000 đồng và vợ chồng bà B, ông H1 có thế chấp cho ông 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó vợ chồng ông H1 không đóng lãi cho ông theo thỏa thuận, đến năm 2020 thì được người môi giới đất giới thiệu ông Lâm Quốc K1 có nhu cầu mua bán đất nên bà B cùng với ông ra phòng công chứng để ký chuyển nhượng thửa đất qua tên ông K1 là 150.000.000 đồng, ông K1 giao tiền tại phòng công chứng và ông nhận lại số tiền vốn là 100.000.000 đồng còn 50.000.000 đồng thì bà B nhận.

Thời điểm bà B cùng với ông ký chuyển nhượng thửa đất lại cho ông Lâm Quốc K1 thì ông đã nhận lại đủ số tiền mà vợ chồng của ông H1, bà B vay của ông là 100.000.000 đồng từ đó về sau thửa đất trước đó đã thế chấp cho ông như thế nào thì ông không biết. Do công việc làm ăn nên ông thường xuyên không có mặt ở nhà. Do đó, ông đề nghị Tòa án cho phép ông được vắng mặt trong tất cả các cuộc hòa giải, đối chất, công bố chứng cứ cũng như trong quá trình xét xử.

Tại tòa sơ thẩm đại diện Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Quang H trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 19/5/2024 là 274.148.303 đồng. Trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 74.148.303 đồng.

Trường hợp ông H không trả số nợ trên đề nghị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho D, tài sản bảo đảm cụ thể là: Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 do ông Nguyễn Quang H đứng tên sử dụng.

Tại Bản án sơ thẩm số 43/2024/DSST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Nguyễn Quang H.

    Buộc ông Nguyễn Quang H phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 274.148.303 đồng (Hai trăm bảy mươi bốn triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm lẽ ba đồng). Trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 46.518.625 đồng (Bốn mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn 27.629.678 đồng (Hai mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng) (tạm tính đến ngày 20/5/2024).

    Buộc ông Nguyễn Quang H còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 21/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 sang tên Nguyễn Quang H.

    Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0029/TC21 ngày 14/6/2021 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Quang H, bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ bị vô hiệu.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 04/6/2024 Ngân hàng TMCP Đ có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm đối với phần xử lý hợp đồng thế chấp không cho Ngân hàng quyền phát mãi tài sản. Đề nghị sửa Bản án sơ thẩm phần này.

Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng kháng cáo giữ nguyên yêu cầu, Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

  • - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
  • - Về nội dung vụ án: Trên cơ sở tài liệu chứng cú và trình bày của các bên, có đủ căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Đ. Buộc ông Nguyễn Quang H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền là 250.106.887 đồng. Trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng, 27.629.678 đồng, lãi quá hạn 46.518.625 đồng tính đến ngày xét xử. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị bán phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh C. Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 14/06/2021 là vô hiệu.
  • Dành quyền khởi kiện cho ông T, ông K1, ông H và bà B ông H1 đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu các bên có yêu cầu.
  • Ngân hàng kháng cáo về hợp đồng thế chấp nhưng không có chứng cứ mới nào khác nên không có cơ sở để xem xét, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ tài liệu chứng cứ, trình bày của các bên, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện ông Nguyễn Quang H về việc đòi nợ theo Hợp đồng sử dụng tín dụng do các bên thỏa thuận. Nay các đương sự có phát sinh tranh chấp nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn Nguyễn Quang H có nơi cư trú tại địa bàn quận Ô, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. [2] Thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Quang H và ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị Bé B đã được triệu tập hợp lệ lần 2, nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, nên căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.
  3. [3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu ông Nguyễn Quang H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 20/5/2024 là 274.148.303 đồng. Trong đó nợ gốc : 200.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 46.518.625 đồng ; Lãi quá hạn: 27.629.678 đồng. Hợp đồng tín dụng đã được các bên tự nguyện giao kết với nhau, về nội dung và hình thức của hợp đồng tín dụng thỏa mãn các điều kiện được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 nên các bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Bị đơn ông Nguyễn Quang H thừa nhận có nợ Ngân hàng TMCP Đ với số tiền như trên là đúng. Đồng thời ông H xin Ngân hàng cho ông trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Nguyễn Quang H nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền 274.148.303 đồng (tạm tính đến ngày 20/5/2024) là thật. Do đó, cần phải buộc ông Nguyễn Quang H trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền trên và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 21/5/2024 đến khi ông H thanh toán dứt nợ cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Các đương sự không ai kháng cáo được giữ nguyên.
  4. [4] Về yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng yêu cầu xem xét về quyền được phát mãi tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp ngày 14/6/2021

    Xét thấy QSD đất diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 sang tên Nguyễn Quang H.

    Bà Bé B cho rằng giữa bà và chồng là ông H1 trước đây có vay của ông T số tiền 100.000.000 đồng, khi vay nợ thì ông T có nói là ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 07/8/2020 để làm tin khi có tiền trả thì ông T sẽ ký trả lại đất cho bà và ông H1, khi vay thực tế bà B và ông H1 chỉ nhận 80.000.000 đồng, nhưng thỏa thuận vay 100.000.000 đồng mỗi tháng đóng 5.000.000 đồng tiền lãi, ông và bà có đóng lãi cho ông T nhưng số tiền cụ thể không nhớ rõ. Bà B thừa nhận bà và ông H1 có ký tên vào Hợp đồng chuyển nhượng với ông T (thực tế là vay nợ), bà B chỉ biết vay tiền ông T, chứ hoàn toàn không biết ông H. Bà B khẳng định giữa bà và ông H không có thỏa thuận thuê nhà đất, chữ ký trong hợp đồng thuê nhà và đất ngày 04/6/2021 với ông H và bản thỏa thuận ngày 15/6/2021 giữa Ngân hàng Đ, ông H và bà Bé B, thì chữ ký và chữ viết trong 02 văn bản này không phải là của bà. Tòa sơ thẩm có giải thích cho phía Ngân hàng về việc bà B không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong hợp đồng thuê nhà và đất, đồng thời đề nghị phía Ngân hàng làm thủ tục giám định chữ ký và chữ viết trong biên bản trên nhưng phía Ngân hàng không thực hiện, xem như từ bỏ quyền này. Do đó, hợp đồng thuê nhà và đất ngày 04/6/2021 với ông H và bản thỏa thuận ngày 15/6/2021 giữa Ngân hàng Đ với ông Nguyễn Quang H và bà Nguyễn Thị Bé B không có giá trị để xem xét.

    Mặt khác, ông T cũng thừa nhận rằng vào năm 2019 ông có cho bà B2 B và ông H1 vay số tiền 100.000.000 đồng và vợ chồng bà B, ông H1 có thế chấp cho ông 01 giấy chứng nhận QSD đất cho ông. Sau đó vợ chồng ông H1 không đóng lãi cho ông theo thỏa thuận, đến năm 2020 thì được người môi giới đất giới thiệu ông Lâm Quốc K1 có nhu cầu mua bán đất nên bà B cùng với ông ra phòng công chứng để ký chuyển nhượng thửa đất qua tên ông K1 với giá tiền 150.000.000 đồng, ông K1 giao tiền tại phòng công chứng và ông nhận lại số tiền vốn là 100.000.000 đồng còn 50.000.000 đồng thì bà B nhận. Tuy nhiên đối với lời trình bày này của ông T thì bà B cũng không thừa nhận, khẳng định không có việc này.

    Hơn nữa, từ khi bà B, ông H1 ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông T từ năm 2020 nhưng đến nay các bên vẫn không thực hiện việc giao đất trên thực tế, đồng thời trên đất còn có 01 căn nhà cấp 4 mà ông H1 và bà B đã xây dựng trước đó vẫn đang sử dụng nhưng trong hợp đồng chuyển nhượng các bên không đề cặp và giao kết gì đối với căn nhà này. Từ đó cho thấy giao dịch ban đầu là hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông T với bà Bé B và ông H1 là giao dịch giả tạo nhằm che giấu việc vay tiền.

    Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với yêu cầu phát mãi quyền sử dụng đất diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 sang tên Nguyễn Quang H là không có cơ sở chấp nhận.

    Đối với các giao dịch dân sự giữa ông T, ông H1, bà B, ông K1, ông H do các đương sự không yêu cầu nên Tòa sơ thẩm tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu là phù hợp.

    Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, nên không có cơ sở để xem xét. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.

  5. [5] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
  6. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
  7. [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng không được chấp nhận nên phải chịu án phí.
  8. [8] Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ Ngân hàng TMCP Đ.
  • - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo Ngân hàng TMCP Đ.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Nguyễn Quang H.

    Buộc ông Nguyễn Quang H phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 274.148.303 đồng (Hai trăm bảy mươi bốn triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm lẽ ba đồng). Trong đó nợ gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 46.518.625 đồng (Bốn mươi sáu triệu năm trăm mười tám nghìn sáu trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn 27.629.678 đồng (Hai mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng) (tạm tính đến ngày 20/5/2024).

    Buộc ông Nguyễn Quang H còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 21/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 86m², tại khu vực Rạch C, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Thửa đất số 1437, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H03597 do UBND quận Ô cấp ngày 05/01/2009, chỉnh lý biến động ngày 11/6/2021 sang tên Nguyễn Quang H.

    Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0029/TC21 ngày 14/6/2021 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Quang H, bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ bị vô hiệu.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Quang H phải chịu 13.707.400 đồng (Mười ba triệu bảy trăm lẽ bảy nghìn bốn trăm đồng).

    Ngân hàng TMCP Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.672.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003987 ngày 11/4/2023. Ngân hàng được nhận lại 5.372.000 đồng (Năm triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Quang H lại cho Ngân hàng TMCP Đ 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) (Ngân hàng đã nộp và chi xong).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP Đ phải nộp 300.000đồng, chuyển số tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0004702 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành án phí (nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 18/11/2024.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Cần Thơ;
  • - TAND Q. Ô Môn;
  • - CC THADS quận Ô Môn;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Thị Hồng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 475/2024/DSPT ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 475/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger