TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 475/2024/HS-ST
Ngày: 20 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Châu
Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Châu
- Ông Huỳnh Trường Sơn
- Ông Trần Trung Tính
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Dương Ngọc Ân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 636/2024/TLST-HS ngày 21/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4788/2024/QĐXXST-HS ngày 22/8/2024 đối với bị cáo:
Trần Lê Tuấn T; giới tính: Nam; sinh năm 1989, tại thành phố H; nơi đăng ký thường trú: đường C, phường M, quận T, thành phố H; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Trần Tòng D và bà Lê Thị Hồng Đ (chết); có vợ là Võ Thị L và 01 con sinh năm 2013; tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 04/2018/HSST ngày 06/02/2018, Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh S xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong án phạt tù ngày 03/4/2022; chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm, tiền thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 02/7/2023; có mặt.
- Người bào chữa: Luật sư Lương Văn T - Công ty luật ĐPV, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, tại trước nhà số B2/26 Quốc lộ 50, ấp 2, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh phối hợp với Công an xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh phát hiện, bắt quả tang Trần Lê Tuấn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để bán. Thu giữ trong túi áo khoác bên trái Trần Lê Tuấn T đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 99,0142 gam loại Methamphetamine và trong túi quần phía trước bên phải Trần Lê Tuấn T đang mặc 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 3,6625 gam loại Methamphetamine. Toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ của Trần Lê Tuấn T đã được giám định, kết quả thể hiện tại Bản kết luận giám định số 7291/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Lê Tuấn T không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì khác.
Trần Lê Tuấn T khai: Khoảng tháng 6/2023, Trần Lê Tuấn T biết 01 người phụ nữ tên N1 hoạt động bán ma túy nên đã mua ma túy của N1 để bán lại kiếm lời. Chiều ngày 02/7/2023, có 01 người phụ nữ tên N2 (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho Trần Lê Tuấn T đặt mua 100 gam ma túy. Trần Lê Tuấn T gọi điện thoại cho N1 hỏi mua 100 gam ma túy, N1 báo giá 32.000.000 đồng, hẹn giao ma túy tại khu vực Bến Bình Đông, Quận 8, cả hai thỏa thuận khi nào bán được ma túy, Trần Lê Tuấn T trả tiền cho N1. Sau đó, Trần Lê Tuấn T gọi điện thoại cho N2 để báo giá 100 gam ma túy là 34.000.000 đồng, N2 đồng ý mua và hẹn giao ma túy ở ngã tư Nguyễn Văn Linh và Quốc lộ 50. Thỏa thuận xong, Trần Lê Tuấn T điều khiển xe Honda Dream đến khu vực hẻm 505 Bến Bình Đông, Quận 8 gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) và nhận 01 gói nylon chứa ma túy, Trần Lê Tuấn T đem về nhà, phân chia thành 03 gói: 01 gói lớn khoảng gần 100 gam để bán cho N2 và 02 gói nhỏ để bán cho người nghiện mua lẻ. Trần Lê Tuấn T cất giấu gói ma túy lớn vào túi áo khoác bên trái và 02 gói ma túy nhỏ vào túi quần phía trước bên phải Trần Lê Tuấn T đang mặc rồi điều khiển xe đến điểm hẹn để bán cho N2 nhưng trên đường đi bị Công an kiểm tra và bắt quả tang.
Kiểm tra điện thoại của Trần Lê Tuấn T ghi nhận có cuộc gọi đi và gọi đến của N2 số điện thoại 0906.607.xxx và số điện thoại 0908.958.xxx là của N1, xác minh các số điện thoại, thể hiện:
- Số điện thoại 0908.958.xxx do ông Lê Trung N3 năm 2002; nơi thường trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh C; chỗ ở: đường L, tổ B, ấp C, xã T, huyện C, thành phố H đăng ký chủ thuê bao. Hiện ông Lê Trung N3 không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định truy tìm đối với Lê Trung N3;
- Số điện thoại 0906.607.xxx do ông Huỳnh Hàn Q sinh năm 1977; nơi thường trú: đường Q, phường S, quận M, thành phố H đăng ký chủ thuê bao. Ông Huỳnh Hàn Q khai khoảng cuối năm 2022, ông có đứng tên để mua số thuê bao trên giúp 01 người bạn tên N2 (không rõ lai lịch) vì lý do N2 bị mất giấy chứng minh không thể đăng ký thuê bao trên. Hiện ông Huỳnh Hàn Q không còn liên lạc với N2 và không biết N2 đang ở đâu.
Tại bản Cáo trạng số 511/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Lê Tuấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố, xét bị cáo Trần Lê Tuấn T có thái độ khai báo thành khẩn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Lê Tuấn T 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị thu giữ còn lại sau giám định; đối với các tang vật liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Lê Tuấn T trình bày: Bị cáo bị bắt quả tang khi mang ma túy đi bán với khối lượng 102,6767 gam Methaphetamine, mức án 20 năm tù Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nặng; cần xem xét về hoàn cảnh phạm tội của bị cáo với tuổi đời còn trẻ, học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế, có con còn nhỏ, đã ly hôn vợ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vì hám lợi nhất thời nên đã phạm tội. Từ khi bị bắt đến nay bị cáo luôn thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Do đó, căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt thấp hơn mức mà Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình; đề nghị xem xét không áp dụng phạt tiền bổ sung do bị cáo chưa được hưởng lợi và gia đình bị cáo khó khăn.
Bị cáo đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư, không có ý kiến bào chữa bổ sung và không tham gia tranh luận.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng mức án Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nặng, quan điểm của Viện kiểm sát đã căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức án đối với bị cáo là phù hợp. Luật sư đề nghị miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng quan điểm của Viện kiểm sát là do bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hưởng lợi nên cần thiết phải phạt tiền bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Lê Tuấn T không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Trần Lê Tuấn T đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trần Lê Tuấn T đã có hành vi mua ma túy của đối tượng tên N1 (không rõ lai lịch) để bán lại cho người khác. Ngày 02/7/2023, Trần Lê Tuấn T mang ma túy đi bán cho khách thì bị bắt quả tang, thu giữ 102,6767 gam Methamphetamine.
[3] Hành vi của bị cáo đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo Trần Lê Tuấn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng ma túy thu giữ là 102,6767 gam Methamphetamine, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng 100 gam trở lên” được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Lê Tuấn T về tội danh và điều luật như đã phân tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội trong vụ án này nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Lê Tuấn T khai báo thành khẩn, nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về số tiền thu lợi bất chính: Do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo, ngoài ra không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện số tiền thu lợi bất chính bị cáo thụ hưởng nên không buộc bị cáo nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xét bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để hưởng lợi nên cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền bổ sung.
Từ các phân tích nêu trên là quan điểm của Hội đồng xét xử xét đối với các ý kiến tranh luận, đối đáp của Luật sư bào chữa cho bị cáo và của Kiểm sát viên.
[5] Xử lý vật chứng:
- Đối với: 03 gói niêm phong số 1465 (gói 1, gói 2, gói 3)/2023. Bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Phạm Tấn Thành (bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi nylon xanh, trắng, bên ngoài có chữ SKY MASK; 01 túi da màu đỏ, trắng, viền kim loại. Xét đây là vật cấm lưu hành, có liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI1: 867124045333119, số IMEI2: 867124045333101, cùng 02 sim số: 0867.379.819 và 0903.563.592 thu giữ của bị cáo Trần Lê Tuấn T; bị cáo Trần Lê Tuấn T khai sử dụng để liên lạc với gia đình và mua bán ma túy. Xét có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- Đối với: 01 xe gắn máy hiệu Honda Dream biển số 63B1-571.24, số máy: HA05B-0 ...00723; số khung: RLHHA0601...09. Kết quả giám định số khung, số máy bị băm mất số tại vị trí dấu chấm, không xác định được số nguyên thủy. Biển số xe 63B1-571.24 được cấp cho chiếc xe gắn máy hiệu Honda Shmode, số khung RLHJF5128FY132482, số máy: JF51E0366789 do bà Trần Thị Ngọc Phê (thường trú: 549/11 Lò Gốm, Phường 9, Quận 6, TP. Hồ Chí Minh) chủ sở hữu. Hiện tại bà Phê không có mặt tại địa phương. Ông Trần Tòng Dũ là cha của Trần Lê Tuấn T khai chiếc xe trên do vợ ông (đã chết) mua lại của 01 người bạn (không rõ lai lịch) từ năm 2019 để sử dụng, chưa sang tên. Năm 2022, ông Dũ giao xe cho Trần Lê Tuấn T sử dụng, việc Trần Lê Tuấn T mua bán ma túy ông Dũ không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không có ai liên hệ giải quyết. Xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Lê Tuấn T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Lê Tuấn T 10.000.000 đồng.
2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 03 gói niêm phong số 1465 (gói 1), 1465 (gói 2), 1465 (gói 3)/2023. Bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phan Tấn Quốc và cán bộ điều tra Phạm Tấn Thành (bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định); 01 túi nylon xanh, trắng, bên ngoài có chữ SKY MASK; 01 túi da màu đỏ, trắng, viền kim loại;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI1: 867124045333119, số IMEI2: 867124045333101, cùng 02 sim số: 0867.379.819 và 0903.563.592 (không kiểm tra đời máy, Imei, số sim do không có
nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Không xác định, số loại: Không xác định, dung tích xi lanh: Không xác định, biển số: 63B1-571.24, SK (bị băm mất số tại vị trí dấu chấm, không xác định được số nguyên thủy, ghi theo kết luận giám định): RLHHA0609WY...0709, số máy: (bị băm mất số tại vị trí dấu chấm, không xác định được số nguyên thủy, ghi theo kết luận giám định) HA05E -...723 (không bửng, không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/498 ngày 19/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.)
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |
Bản án số 475/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 475/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
