|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 475/2024/HNGĐ-ST Ngày 22-04-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thanh Vân
Ông Võ Thành Viên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án án nhân dân quận Gò Vấp
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim T; cư trú tại: 5 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Vũ Dũng M, cư trú tại: 5 N, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: F T, phường B, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/02/2024 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim T trình bày: Bà và ông M tự nguyện kết hôn với nhau năm 2009. Quá trình chung sống ông bà 02 con chung tên Vũ Thái Bình sinh ngày 15/03/2010, Vũ Kiên An sinh ngày 14/10/2011.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân do đôi bên bất đồng quan quan điểm, không chia sẻ trong các vấn đề chung của gia đình. Do xung đột ngày càng trầm trọng nên ông M hai lần yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, bà T mong muốn cố gắng tự hàn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý thực hiện thủ tục ly hôn. Mặc dù, bản thân đã cố gắng nhưng mâu thuẫn gia đình không được giải quyết. Bà và ông M tiếp tục xung đột về cách nuôi dạy con và các vấn đề kinh tế chung. Đôi bên không tìm được tiếng nói chung và không thể trao đổi để giải quyết xung đột vợ chồng. Nay nhận thấy mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn, xung đột vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông M
Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chung Vũ Thái Bình sinh ngày 15/03/2010, Vũ Kiên An sinh ngày 14/10/2011 và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu
Bị đơn ông Vũ Dũng M trình bày: Ông Minh xác đ thời điểm kết hôn và con chung đúng như nguyên đơn trình bày.
Về quan hệ hôn nhân: Từ năm 2011 cho đến nay, các vấn đề chung của gia đình như: Vấn đề kinh tế chung của gia đình, phương pháp nuôi dạy con chung và việc quan hệ với gia đình hai bên, bà T tự ý quyết định. Bà T thường xuyên có hành vi áp đặt, không tôn trọng, không trao đổi tìm sự thống nhất của vợ chồng nên ông và bà T không có sự bàn bạc, cùng giải quyết các vấn đề này.
Ngoài ra bà T vu khống, xúc phạm, cho rằng ông không có việc làm ổn định là vô căn cứ, làm ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông M. Trong quá trình chăm sóc bố mẹ chồng, bà T thể hiện sự thờ ơ, không quan tâm, chăm sóc gia đình bên nội. Do các vấn đề mâu thuẫn gia đình, vào năm 2022, ông M có chính thức yêu cầu ly hôn, nhưng bà T không đồng ý ly hôn vì lý do ảnh hưởng đến sự phát triển của con chung.
Nay bà T đơn phương yêu cầu ly hôn, ông M yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Về con: Ông và bà T có hai con chung tên Vũ Thái Bình sinh ngày 15/03/2010, Vũ Kiên An sinh ngày 14/10/2011. Nếu bà T bảo đảm việc nuôi dưỡng con phát triển tốt về tinh thần, thể chất và giáo dục con đầy đủ thì ông M cũng đồng ý cho bà T nuôi dưỡng 02 con chung.
- Về tài sản và nợ chung: Ông và bà T không có tài sản chung.
Tại phiên tòa, ông M giữ nguyên ý kiến
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Phạm Thị Kim T yêu cầu ly hôn với ông Vũ Dũng M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 37 quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân phường B1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/4/2009 thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Kim T và ông ông Vũ Dũng M là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX xét thấy: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản ghi nhận lời khai và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện mâu thuẫn gia đình giữa nguyên đơn và bị đơn đã nghiêm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được.
Bị đơn xác nhận nguyên đơn không tôn trọng, tự ý quyết định việc nuôi dạy con chung và các vấn đề quan trọng khác của gia đình. Đôi bên không có sự trao đổi, bàn bạc, chia sẽ, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Do xung đột vợ chồng không được giải quyết nên năm 2022, ông M đã yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, bà T không muốn ảnh hưởng đến sự phát triển của con chung và cố gắng tự hàn gắn xung đột. Mặc dù vậy, từ năm 2022 đến nay, mức độ mâu thuẫn vợ chồng không thuyên giảm. Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn cho rằng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân và cương quyết yêu cầu được ly hôn.
Xét thấy hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm cách sống. Đôi bên phải quý trọng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung thì mục đích hôn nhân mới đạt được. Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông M là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 129/2010 quyển số 1/2010 ngày 25/03/2010, Giấy khai sinh số 613/2011 quyển số 04/2011 ngày 14/12/2011 cùng do Ủy ban nhân dân phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, có đủ cơ sở xác định trẻ Vũ Thái B, Vũ Kiên A là con chung của nguyên đơn và bị đơn.
Căn cứ vào Biên bản ghi nhận nguyện vọng của con chung ngày 09/4/2024 có sự chứng kiến của nguyên đơn, bị đơn thể hiện: Trẻ Vũ Thái B, Vũ Kiên A có nguyên vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông M xác định: Nếu bà T bảo đảm việc nuôi dưỡng con phát triển tốt về tinh thần, thể chất và giáo dục con đầy đủ thì ông cũng đồng ý cho bà T nuôi dưỡng 02 con chung.
Căn cứ vào Hợp đồng lao động số 03/2011 ngày 01/1/2011 ký kết giữa nguyên đơn và công ty CP I, bảng xác nhận mức thu nhập, thể hiện nguyên đơn có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo việc trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Vì vậy, để bảo đảm nguyện vọng chính đáng của 02 con chung, HĐXX quyết định: Giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 trẻ Vũ Thái Bình sinh ngày 15/03/2010, Vũ Kiên An sinh ngày 14/10/2011. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Hai đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Kim T:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Kim T được ly hôn với ông Vũ Dũng M
Giấy chứng nhận kết hôn số 37 quyển số 01/2009 ngày 20/4/2009 do Ủy ban nhân dân phường B1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp hết hiệu lực.
Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai trẻ Vũ Thái Bình sinh ngày 15/03/2010, Vũ Kiên An sinh ngày 14/10/2011. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ông Vũ Dũng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, bà T phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012501 ngày 01/2/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Linh |
Bản án số 475/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 475/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đơn phương ly hôn
