TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 475/2024/DS-PT
Ngày: 30 -7-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Lan Anh |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Liên Anh |
| Ông Đinh Như Lâm |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2023/TLPT - DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 về: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1957; Có mặt.
Địa chỉ: Tổ C, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1962; Có mặt.
Địa chỉ: xóm V, cụm A, thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Nguyễn Tố H, sinh năm 1966.
Địa chỉ liên hệ: Phòng 601, số A T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông K: Luật sư Bùi Minh Đ1, Công ty L. Địa chỉ: P, số A T, phường T, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1950; Xin vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Q, sinh năm 1957; Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Tổ C, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Hữu K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Đ trình bày:
Năm 2001, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn C diện tích 247m² đất ao tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội. Vị trí cụ thể xác định như sau: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 20m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài 10,5m; Phía Nam giáp ngõ nhà ông Phạm Văn C có chiều dài 20m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có chiều dài 14,2m.Việc chuyển nhượng này có lập thành văn bản viết tay ký kết giữa bên mua và bên bán, giấy viết tay chuyển nhượng đất có ông Nguyễn Mạnh K1 và ông Nguyễn Hữu K ký làm chứng. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông C đã bàn giao diện tích đất, mốc giới các cạnh cho gia đình ông Đ quản lý, sử dụng. Gia đình ông Đ quản lý đất đất ổn định, không có tranh chấp với ai. Quá trình quản lý sử dụng thửa đất, ông Đ đã tiến hành san lấp như hiện trạng bây giờ.
Khoảng tháng 4/2017, gia đình ông tiến hành xây dựng công trình làm tường bao thửa đất thì ông Nguyễn Hữu K ngăn cản không cho ông xây dựng vì ông K cho rằng phần thửa đất này là của nhà ông K. Sau đó ông có làm đơn lên UBND xã V một mặt đăng ký quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; mặt khác để đề nghị UBND xã giải quyết tranh chấp với ông K. Quá trình giải quyết tại UBND xã V hai bên không tìm được tiếng nói chung. Đơn khởi kiện ban đầu ông cho rằng diện tích nhà ông và diện tích nhà ông K chỉ tranh chấp phần diện tích nhỏ tiếp giáp nên ông khởi kiện tranh chấp mốc giới giữa hai nhà nhưng sau khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, ông K cho rằng 105m² đất thuộc thửa đất của ông nhận chuyển nhượng là của ông K nên ông làm đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Hữu K. Đề nghị ông Nguyễn Hữu K trả lại cho ông diện tích 105m² đất thuộc thửa đất số 58, tờ bản đồ số 28 hệ bản đồ năm 1994 tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội hiện nay ông K đang lấn chiếm của gia đình ông. Ngoài ra ông không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu K trình bày:
Ông có thửa đất được cha ông để lại có diện tích 762m² đất ở tại V, V, T, Hà Nội. Năm 2004 ông đã đứng tên kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 657m² tại V, V, T, Hà Nội. Ông cho rằng diện tích ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu 105m² so với diện tích đất nhà ông. Sau đó, gia đình ông K liên tục có đơn đề nghị với UBND xã V về việc diện tích đất còn thiếu, nên đến năm 2017, UBND xã V đã cấp cho nhà ông thửa đất 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội. Do ông đã nhiều tuổi nên ông ủy quyền cho anh Nguyễn Hữu T đứng tên trên diện tích đất mà UBND xã V mới cấp này cho ông. Ông cho rằng thửa đất 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội chính là thửa đất liền kề tiếp giáp với thửa đất nhà ông đang quản lý sử dụng. Vì thửa đất này ông đã san lấp trồng rau từ thời gian trước mà ông không nhớ cụ thể từ lúc nào.
Ông có biết việc ông C bán đất cho ông Đ năm 2001, diện tích mua bán bao nhiêu ông không nhớ nhưng giấy mua bán đất giữa nhà ông C và nhà ông Đ do ông viết hộ và ký tên làm chứng, Do thời gian đã lâu nên ông không nhớ cụ thể vị trí, diện tích, kích thước, giá tiền. Việc thực hiện chuyển nhượng đất giữa ông C và ông Đ thế nào ông không biết.
Năm 2017 ông Phạm Văn C là người bán đất cho ông Đ đã có đơn lên UBND xã V về việc ông lấn chiếm đất của nhà ông C. Quá trình giải quyết tại UBND xã V, giữa ông C và ông không hòa giải được và không tìm được tiếng nói chung. Trong suốt thời gian UBND xã V giải quyết đơn của ông C với ông, ông không thấy nhắc tên đến ông Đ nên ông không biết ông Đ như thế nào với thửa đất. Cho đến năm 2019, ông nhận được giấy mời của UBND xã V mời ông lên làm việc về việc ông đang lấn chiếm đất của ông Đ. UBND xã V đã tổ chức các buổi hòa giải để giải quyết tranh chấp nhưng không tìm được tiếng nói chung. Ông vẫn cho rằng phần diện tích 105m² đất này thuộc sở hữu của ông. Tuy nhiên, ông không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu chứng cứ gì về quyền sở hữu của ông đối với diện tích 105m² đất này.
Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu ông trả lại diện tích 105m² đất, quan điểm của ông là yêu cầu ông Đ phải đưa ra những căn cứ có giá trị pháp luật để chứng minh 105m² đất này đích thực là thuộc quyền sử dụng của ông Đ, đã được các cơ quan có thẩm quyền thừa nhận. Ông cho rằng việc mua bán giữa ông Đ và ông C là không hợp pháp, ông Đ không có tư cách khởi kiện ông. Ông khẳng định 105m² đất này thuộc thửa đất khác đang đứng tên anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1984, trú tại: xóm Đ, thôn V, xã V, T, Hà Nội. Anh T đứng tên liên tục đối với thửa đất này. Đây là toàn bộ quan điểm, ý kiến của ông đối với việc giải quyết vụ án. Ông không có yêu cầu phản tố đối với ông Đ, cũng không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C trình bày:
Gia đình ông được cấp 05 suất đất phần trăm, mỗi suất là 32m² ở V, T, Hà Nội. Khoảng trước những năm 1980 địa phương có trào lưu đổi đất phần trăm lấy đất ao của Hợp tác xã nông nghiệp hợp nhất của xã V. Gia đình ông đã đổi 05 suất đất phần phần trăm lấy 10 suất đất ao (mỗi suất đất ao cũng 32m²). Như vậy nhà ông đã đổi 160m² đất phần trăm lấy 320m² đất ao. Hợp tác xã đã tiến hành đo đạc và bàn giao diện tích đất ao cho gia đình ông quản lý diện tích đất ao từ những năm 1980. Sau khi đổi đất, ông đã làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với diện tích đất ao này vào hồ sơ địa chính của UBND xã V từ những năm 1980 và đã đóng thuế đối với phần diện tích này cũng từ những năm 1980.
Năm 2001 gia đình ông có chuyển nhượng diện tích 247m² đất ao này cho ông Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1957 trú tại: tổ C, phường Y, Cầu G, Hà Nội. Việc chuyển nhượng này có lập thành văn bản được ký giữa các bên: bên bán là ông C và bà N, chị N1, anh T1, bên mua là ông Nguyễn Hữu Đ. Người làm chứng có ông Nguyễn Hữu K, ông Nguyễn Mạnh K1 là các hộ giáp ranh với đất của gia đình ông. Hợp đồng nhượng lại đất ở giữa ông và ông Đ là ông Phạm Văn S viết. Tại thời điểm bàn giao diện tích đất chuyển nhượng các ông có lập Văn bản ranh giới, mốc giới đất đề ngày 11 tháng 08 năm 2001. Văn bản xác nhận xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất do ông K viết. Theo văn bản xác nhận ranh giới đất này thì diện tích đất ông chuyển nhượng cho ông Đ là 247m² có các cạnh như sau: Phần tiếp giáp với đường đi có chiều dài 10.5m (cạnh a); chiều dài là 20m (cạnh b - một mặt tiếp giáp với đường đi và 1 mặt tiếp giáp đất với nhà ông K); Cạnh đáy trong tiếp giáp với phần đất còn lại của nhà ông là 14.2m (cạnh c). Sau khi lập văn bản chuyển nhượng đất gia đình ông đã bàn giao mốc giới, diện tích đất chuyển nhượng cho ông Đ quản lý sử dụng, ông Đ quản lý phần diện tích đất này từ đó đến nay, gia đình ông không có ý kiến gì. Gia đình ông K cũng không có ý kiến gì. Tuy nhiên do ông Đ chưa được đứng tên chủ sở hữu đất nên hàng năm ông vẫn đứng tên đóng thuế sử dụng đất thay ông Đ. Sau khi nhận chuyển nhượng đất ông Đ đã nhiều lần nhờ ông thuê người san lấp diện tích đất ao nhận chuyển nhượng để phần diện tích đất ao được như hiện nay.
Ông không nhớ thời điểm cụ thể, chỉ nhớ khi ông Đ có ý định xây tường ngăn giữa hai nhà và tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển nhượng thì gia đình ông Nguyễn Hữu K có ý kiến về việc nhà ông K thiếu hơn 100m² đất và cho rằng gia đình ông lấn đất sang nhà ông K để bán cho ông Đ.
Nay ông Đ khởi kiện vụ án về tranh chấp đất với gia đình ông K, gia đình ông có ý kiến: Diện tích đất ao 320m² ở V, V, T, Hà Nội thuộc sở hữu hợp pháp của gia đình ông. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình ông và ông Đ là hợp pháp, các ông đã thực hiện xong từ năm 2001. Vợ chồng ông Đ là chủ sở hữu hợp pháp đối với 247m² đất ao tại V, V, T, Hà Nội. Việc gia đình ông K có ý kiến về việc gia đình ông lấn đất của nhà ông K là không có căn cứ. Ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này và đề nghị Tòa án cho ông được vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ án, mọi phiên tòa xét xử giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của ông và căn cứ vào pháp luật để giải quyết vụ án. Ông không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Nguyên đơn: giữ nguyên quan điểm và ý kiến như đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xác định phần diện tích đất ông K đã lấn chiếm sang nhà ông theo kết quả thẩm định do tòa án tiến hành đồng nguyên đơn cũng có ý kiến mặc dù phần diện tích đất vợ chồng ông Đ nhận chuyển nhượng là 247m² nhưng do các hộ liền kề đã xây dựng ranh giới ổn định nên đồng ý với phần diện tích còn lại như hiện trạng đất và yêu cầu ông K phải trả ông diện tích là 113.7m².
- - Bị đơn: giữ nguyên quan điểm và ý kiến đã trình bày, khẳng định phần diện tích đất ông Đ đang kiện đòi là thửa đất số 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² đã được UBND xã V cấp cho anh Nguyễn Hữu T. Tại phiên tòa ông K xuất trình 01 bản photo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất lập ngày 05/11/2019; 01 Giấy mời của UBND xã V đề ngày 31/01/2023; 01 giấy mời của UBND xã V đề ngày 06/02/2018. Ông K cho rằng đây là những giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của ông đối với thửa đất. Ông không có bản chính chỉ có bản photo để nộp cho Hội đồng xét xử.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự có ý thức chấp hành pháp luật, có mặt theo giấy triệu tập của tòa án.
- + Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi quyền sử dụng đất. Buộc ông Nguyễn Hữu K trả lại cho ông Nguyễn Hữu Đ phần diện tích đất đã lấn chiếm của ông Đ. Miễn tiền án phí cho ông K và hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Đ.
Bản án sơ thẩm số 23/2023/DS- ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Hữu K.
Xác định diện tích 239.6m² có kích thước và vị trí: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài 10.9m; Phía Nam giáp ngõ nhà ông Phạm Văn C có chiều dài 20.03m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp khúc 12.83m; 1.80m và 0.55m thuộc thửa đất số 58 tờ bản đồ tờ bản đồ số 28 hệ bản đồ năm 1994 tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q (có sơ đồ kèm theo). Buộc ông Nguyễn Hữu K trả cho ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q diện tích 113.7m² có vị trí và kích thước: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài các cạnh gấp khúc 4.94m và 0.33m; Phía Nam phần đất còn lại có chiều dài 19.55m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp 4.77m; 0.55m và 1.80m.
Ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q được thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu đối với diện tích đất.
Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Hữu K kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 24/04/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì với lý do Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đánh giá chứng cứ không khách quan, tuyên án trái ngược với thực tế và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
- + Xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án một cách khách quan nhất, các tài liệu chứng cứ, nguồn gốc sử dụng đất, trách nhiệm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trách nhiệm của UBND xã V trong việc giải quyết về mốc giới và nguồn gốc đất của ông Nguyễn Hữu K, ông Phạm Văn C trước khi ông Phạm Văn C bán đất ruộng, ao cho ông Nguyễn Hữu Đ.
- + Bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp cho bị đơn.
Tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Hữu K đề nghị giám định chữ ký, chữ viết đối với Hợp đồng nhượng lại đất ở ngày 11/8/2001 và Văn bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/8/2001. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định đối với hai tài liệu trên. Tại kết luận giám định số 109/KL-KTHS ngày 11/12/2023 đã kết luận như sau: “...5.1. Người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu K trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, MS không viết ra chữ viết phần nội dung trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2.
5.2. Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu K dưới mục "Làm chứng" trên: mẫu cần giám định ký hiệu Al và chữ ký đứng tên đứng tên Nguyễn Hữu K dưới mục "Chủ sử dụng đất liền kề" trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Hữu K trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người ký, viết ra.
5.3. Các chữ 'Nguyễn Hữu K" dưới mục "Chủ sử dụng đất liền kề" trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ viết của Nguyễn Hữu K trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M5 không phải do cùng một người viết ra.
5.4. Căn cứ khoản 2, Điều 11; khoản 1, Điều 24 - Luật Giám định tư pháp năm 2012 và điểm d, khoản 1, Điều 80 - Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, V từ chối giám định nội dung: chữ viết trên các mẫu cần giámđịnh ký hiệu A1, A2 có được viết cùng thời điểm hay không và viết vào thời gian nào, do Viện Khoa học hình sư chưa giải quyết được các yêu cầu về thời điểm viết trên tài liệu...”.
Tại phiên toà phúc thẩm,
- - Nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị xác định diện tích 239.6m² tại thôn V, V, T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng của ông Đ và buộc ông K phải trả lại phần diện tích thuộc thửa đất 58, tờ bản đồ 28 như cấp sơ thẩm đã tuyên. Ngoài ra, ông Đ không có yêu cầu gì khác.
- - Bị đơn: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày luận cứ cho rằng: Ông Nguyễn Hữu Đ không có quyền khởi kiện; Toà án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng công khai chứng cứ không đầy đủ, đưa thiếu người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là bà Đỗ Thị Q1 vợ ông K vào tham gia tố tụng; theo đánh giá ông C chỉ bán cho ông Đ khoảng 105.3m² đến 172m² đất ao; Hợp đồng chuyển nhượng lại đất tại bút lục 26 đề ngày 11/8/2001 là văn bản được viết lại mới nội dung và cho rằng ông Đ và ông C viết hai giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Và đề nghị huỷ bản án, đình chỉ giải quyết vụ án với lý do chủ yếu:
- + Ông Đ không có quyền khởi kiện.
- + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ và ông K nộp cho Toà án không phải là hợp đồng mà ông K đã viết hộ trước đây; thiếu chữ ký của vợ ông Đ là bà Q.
- + Văn bản mà ông Đ nộp cho Toà án hợp đồng nhượng lại đất ở ngày 11/8/2001 là giấy viết lại (làm giả) vì theo lời khai của ông Đ thì giấy này do ông K viết hộ. Kết luận giám định chỉ kết luận phần chữ ký viết tại cuối văn bản là của ông K. Còn phần viết nội dung không phải do ông K viết.
- + Văn bản xác định ranh giới ngày 11/8/2001 là do ông Đ làm giả.
Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án;
Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, VKS đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Hữu K nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ về mặt hình thức.
Tại phiên toà phúc thẩm: có mặt nguyên đơn, bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn; người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của bị đơn cho rằng đưa thiếu người tham gia tố tụng là bà Đỗ Thị Q1 là vợ ông Nguyễn Hữu K: Hội đồng xét xử nhận thấy ông Nguyễn Hữu Đ chỉ đòi phần đất nằm trong thửa 58, tờ bản đồ 28 tại thôn V, xã V, T, Hà Nội theo đo đạc của cấp sơ thẩm là 113.7m², hiện ông K cho rằng phần đất này là đất của ông do UBND huyện cấp thiếu, theo đó áp bản đồ thì diện tích này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện đã cấp năm 2004 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu K cũng như không nằm trong thửa 57, tờ bản đồ số 28 là thửa đất của gia đình ông K. Do vậy HĐXX không chấp nhận ý kiến này.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hữu K, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Ông Phạm Văn C có diện tích đất 247m² tại thôn V, xã V, T, Hà Nội. Ông Phạm Văn C đã có tên trên hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này. Ngày 11/8/2001 vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ có nhận chuyển nhượng của gia đình ông C thửa đất nói trên. Việc chuyển nhượng này có lập thành văn bản, có chữ ký của bên bán và bên mua đồng thời có ông Nguyễn Hữu K và ông Nguyễn Mạnh K1 làm chứng các bên vẽ sơ đồ, thể hiện kích thước các cạnh và có mốc giới. Ông Nguyễn Hữu Đ xuất trình bản gốc Hợp đồng nhượng lại đất ở ngày 11/8/2001và Văn bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/8/2001, có chữ ký của ông Nguyễn Hữu K ở mục người làm chứng và chủ sử dụng liền kề.
Sau khi lập văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Đ đã giao đầy đủ số tiền chuyển nhượng cho ông Phạm Văn C đồng thời ông Phạm Văn C đã bàn giao diện tích đất, mốc giới cho ông Đ quản lý sử dụng đất từ năm 2001 đến nay có đóng thuế sử dụng đất. Không ai có ý kiến thắc mắc hay tranh chấp gì. Khoảng năm 2017 khi ông Đ làm thủ tục kê khai đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Nguyễn Hữu K ngăn cản bằng cách xếp gạch và trồng rau trên thửa đất của ông Đ. Hai bên xảy ra tranh chấp đã được hoà giải tại UBND xã V nhưng không có kết quả. Nay ông Đ yêu cầu ông K phải trả lại ông phần đất ông K tự ý xếp gạch và trồng rau lên phần đất 105m² mà ông đã mua lại của ông C.
Ông K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ và cho rằng ông có thửa đất được cha ông để lại có diện tích 762m² đất ở tại V, V, T, Hà Nội. Năm 2004 ông đã đứng tên kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 657m² tại V, V, T, Hà Nội. Ông K cho rằng diện tích ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu 105m² so với diện tích đất nhà ông. Sau đó, gia đình ông K liên tục có đơn đề nghị với UBND xã V về việc diện tích đất còn thiếu, nên đến năm 2017, UBND xã V đã cấp cho nhà ông thửa đất 289, tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội. Do ông đã nhiều tuổi nên ông ủy quyền cho anh Nguyễn Hữu T đứng tên trên diện tích đất mà UBND xã V mới cấp này cho ông. Ông K cho rằng thửa đất 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội chính là thừa đất liền kề tiếp giáp với thửa đất nhà ông đang quản lý sử dụng.
Ông K có biết việc ông C bán đất cho ông Đ năm 2001, diện tích mua bán bao nhiêu ông K không nhớ nhưng ông có ký vào giấy mua bán đất giữa nhà ông C và nhà ông Đ với tư cách người làm chứng, Do thời gian đã lâu nên ông K không nhớ cụ thể vị trí, diện tích, kích thước, giá tiền. Việc thực hiện chuyển nhượng đất giữa ông C và ông Đ thế nào ông không biết.
Năm 2017 ông Phạm Văn C là người bán đất cho ông Đ đã có đơn lên UBND xã V về việc ông K lấn chiếm đất của nhà ông C. Quá trình giải quyết tại UBND xã V, giữa ông C và ông K không hòa giải được và không tìm được tiếng nói chung. Trong suốt thời gian UBND xã V giải quyết đơn của ông C với ông K, ông K không thấy nhắc tên đến ông Đ nên ông không biết ông Đ là như thế nào với thửa đất. Cho đến năm 2019, ông K nhận được giấy mời của UBND xã V mời ông K lên làm việc về việc ông K đang lấn chiếm đất của ông Đ. UBND xã V đã tổ chức các buổi hòa giải để giải quyết tranh chấp nhưng có kết quả. Ông K vẫn cho rằng phần diện tích 105m² đất này thuộc sở hữu của ông K. Tuy nhiên ông K không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu chứng cứ gì về quyền sở hữu của ông K đối với diện tích 105m² đất này.
Ông Nguyễn Văn C1 xác nhận, năm 2001 gia đình ông có chuyển nhượng diện tích 247m² đất ao này cho ông Nguyễn Hữu Đ. Việc chuyển nhượng này có lập thành văn bản được ký giữa các bên: bên bán là ông C1 và bà N, chị N1, anh T1, bên mua là ông Nguyễn Hữu Đ. Người làm chứng có ông Nguyễn Hữu K, ông Nguyễn Mạnh K1 là các hộ giáp ranh với đất của gia đình ông. Đến nay giữa ông và ông Đ không tranh chấp gì, ông xác định thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Đ và ông Đ có quyền đăng ký quyền sử dụng đất.
Hội đồng xét xử nhận thấy: việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ông Nguyễn Hữu Đ và ông Nguyễn Văn C1 là tự nguyện có lập văn bản mặc dù ông Đ chưa đăng ký quyền dụng đất nhưng các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ, ông Đ đã giao tiền nhận đất sử dụng đất, đóng thuế sử dụng đất từ thời điểm mua cho đến nay hai bên không có tranh chấp, gia đình ông C1 đến nay vẫn xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông Đ nên ông Đ có quyền khởi kiện đối với bị đơn là đúng quy định của pháp luật phù hợp với Điều 186 của BLDS.
Về việc bị ông K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng Hợp đồng nhượng lại đất ở ngày 11/8/2001 và Văn bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/8/2001 là giấy tờ giả được viết lại vào khoảng năm 2017 cho phù hợp với thực tế:
Xét ông K cho rằng ông không nhớ không ký vào biên bản ông Đ xuất trình và đề nghị giám định chữ ký chữ viết. Tại kết luận giám định số 109/KL- KTHS ngày 11/12/2023 của V1 đã kết luận:
- - “Người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu K trên các mẫu so sánh M1,M2,M3,M5 không viết ra phần nội dung trên các mẫu cần Giám định ký hiệu A1, A2.
- - Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu K dưới mục”làm chứng” trên mẫu giám định ký hiệu Al và chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Hữu K dưới mục” Chủ sử dụng liền kề” trên mẫu giám định ký hiệu A2 so với chữ ký chữ viết của Nguyễn Hữu K trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một người viết ký ra.
Mặt khác, đương sự đều thừa nhận đến năm 2017 ông Đ và ông K đã xảy ra tranh chấp về mốc giới nên việc ông K cho rằng đã ký vào các văn bản trên vào năm 2017 là không có cơ sở.
Như vậy, bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng giấy tờ ông Đ xuất trình gồm Hợp đồng nhượng lại đất ở ngày 11/8/2001 và Văn bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/8/2001 là giấy tờ giả mà không đưa ra được căn cứ nào khác mà chỉ là giả định nên không có căn cứ chấp nhận.
Về việc ông K cho rằng ông có thửa đất được cha ông để lại có diện tích 762m² đất ở tại V, V, T, Hà Nội. Năm 2004 ông đã đứng tên kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 657m² tại V, V, T, Hà Nội. Ông K cho rằng diện tích ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu 105m² so với diện tích đất nhà ông. Sau đó, gia đình ông K liên tục có đơn đề nghị với UBND xã V về việc diện tích đất còn thiếu, nên đến năm 2017, UBND xã V đã cấp cho nhà ông thửa đất 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội. Do ông đã nhiều tuổi nên ông ủy quyền cho anh Nguyễn Hữu T đứng tên trên diện tích đất mà UBND xã V mới cấp này cho ông. Ông K cho rằng thửa đất 289 tờ bản đồ số 63 diện tích 272.9m² ở V, V, T, Hà Nội chính là thừa đất liền kề tiếp giáp với thửa đất nhà ông đang quản lý sử dụng.
UBND xã V cung cấp:
- - Thửa đất của ông Nguyễn Hữu K có thông tin địa chính như sau: theo bản đồ năm 1986 là thửa đất số 69 tờ bản đồ số 03 diện tích 762m².Theo hệ bản đồ năm 1994 là thửa đất số 53 tờ bản đồ số 28 diện tích 657m². Việc diện tích đất của gia đình ông Nguyễn Hữu K thay đổi là do sai số trong khi đo đạc giữa hai hệ bản đồ. Năm 2004 gia đình ông Nguyễn Hữu K làm các thủ tục để đăng ký quyền sử dụng đất, gia đình ông K kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 657m² và gia đình ông K cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất kê khai. Sau khi ông Nguyễn Hữu K nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông K và gia đình không có ý kiến gì. UBND xã V không tiếp nhận bất kỳ đơn thư nào của gia đình ông K.
- - Thửa đất ông Đ đang kiện đòi có các thông tin địa chính: Theo bản đồ đo năm 1986 là thửa đất số 68, tờ bản đồ số 03, diện tích 243m², loại đất ao; chủ sở hữu: ông Phạm Văn C; nguồn gốc thửa đất: Ruộng của nhà vào hợp tác xã bớt lại. Theo bản đồ đo năm 1994 là thửa đất số 58, tờ bản đồ số 28, diện tích 378m² (trong đó có một phần đã cấp GCNQSDĐ thuộc thửa đất số 57, tờ bản đồ số 28). Thửa đất này không có bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện đứng tên ông Nguyễn Hữu T. Ngoài hệ bản đồ năm 1986 và hệ bản đồ 1994, hiện nay không còn hệ bản đồ nào khác.
Quá trình làm việc, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Hữu T đến tòa để cung cấp lời khai và tài liệu chứng cứ nhưng anh T không đến tòa chỉ gửi đơn trình bày thông qua ông K. Ngoài ra anh T và ông K không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ gì chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp đối với thửa đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông K xuất trình 01 bản photo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất lập ngày 05.11.2019 ; 01 Giấy mời của UBND xã V đề ngày 31.01.2023 ; 01 giấy mời của UBND xã V đề ngày 06.02.2018. Toàn bộ tài liệu chứng cứ này là bản photo không có giá trị pháp lý và cũng không phải là tài liệu chứng cứ chứng minh quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất.
Theo kết quả xem xét thẩm định và đo đạc, xác định thửa đất ông Nguyễn Hữu Đ nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn C hiện tại có diện tích 239.6m² có các kích thước và vị trí: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài 10.90m; Phía Nam giáp ngõ nhà ông Phạm Văn C có chiều dài 20.03m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp khúc 12.83m; 1.80m và 0.55m. Phần diện tích có tranh chấp với ông K là 113.7m² có vị trí và kích thước: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài các cạnh gấp khúc 4.94m và 0.33m; Phía Nam giáp phần đất còn lại có chiều dài 19.55m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp 4.77m; 0.55m và 1.80m.
Tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm ông Nguyễn Hữu Đ chỉ yêu cầu ông K trả lại phần đất 113.7m² nằm trong thửa 58 tờ bản đồ 28.
Theo kết quả định giá của hội đồng định giá huyện T: giá trị chuyển nhượng 01m² đất tại thửa đất này là 05 triệu đồng/m2. Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 113.7m² x 5.000.000đ = 568.500.000đ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ sơ sở xác định diện tích 113.7m² thuộc 1 phần thửa đất số 58 tờ bản đồ số 28 hệ bản đồ năm 1994 tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q. Vì vậy, buộc ông Nguyễn Hữu K phải trả cho vợ chồng ông Đ, bà Q phần diện tích 113.7m² đang lấn chiếm. Ông Đ, bà Q được thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu đối với diện tích đất.
Những căn cứ khác mà bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đưa ra không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu K.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Hữu Đ được trả lại tiền tạm ứng án phí.
Ông Nguyễn Hữu K là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải chịu án phí do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là chưa đúng theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, cần phải phải sửa bản án sơ thẩm về phần án phí, còn các nội dung khác của bản án giữ nguyên.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 129, Điều 160, Điều 161, Điều 175, Điều 176, Điều 221, Điều 223, Điều 579, Điều 580 Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai năm 1993; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 95; Điều 96; Điều 100; Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25.11.2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu K.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về phần án phí, cụ thể như sau:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Đ đối với ông Nguyễn Hữu K về việc buộc ông K phải trả lại phần đất lấn chiếm cho ông Đ diện tích là 113.7m² tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội.
- - Xác định diện tích 239.6m² có kích thước và vị trí: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài 10.09m; Phía Nam giáp ngõ nhà ông Phạm Văn C có chiều dài 20.03m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp khúc 12.83m; 1.80m và 0.55m thuộc thửa đất số 58 tờ bản đồ tờ bản đồ số 28 hệ bản đồ năm 1994 tại thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q.
- - Buộc ông Nguyễn Hữu K trả cho ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q diện tích 113.7m² có vị trí và kích thước: Phía Bắc giáp đất nhà ông Nguyễn Hữu K có chiều dài 17.90m; Phía Đông giáp đường liên thôn có chiều dài các cạnh gấp khúc 4.94m và 0.33m; Phía Nam phần đất còn lại có chiều dài 19.55m; Phía Tây giáp đất nhà ông Phạm Văn C và giáp đất nhà ông Nguyễn Mạnh K1 có các cạnh gấp 4.77m; 0.55m và 1.80m.
- - Ông Nguyễn Hữu Đ và bà Bùi Thị Q được thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu đối với diện tích đất.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền . hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2.2. Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Hữu K.
- + Hoàn trả cho ông Nguyễn Hữu Đ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0063223 ngày 21/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Hoàn trả cho ông Nguyễn Hữu K số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0063637 ngày 12/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 475/2024/DS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 475/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
