Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4749/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Phạm Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử B Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1086/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6055/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7335/2024/QĐST-DS ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)

Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D

(Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thúy V, sinh năm 2004

Địa chỉ: 7 đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà Lâm Thị Thùy D trình bày:

Ngày 16/6/2023, Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 4700776 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bị đơn Nguyễn Thúy V với khoản vay trị giá 21.398.930 đồng, mức lãi suất 62%/năm. Trong đó:

  • Gồm 19.999.000 đồng tiền giải ngân qua số tài khoản 070022677886 mở tại Ngân hàng TMCP C (S);
  • Và 1.399.930 đồng tiền phí bảo hiểm khoản vay;

Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà V. Theo Hợp đồng tín dụng, bà V có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 12 tháng kể từ ngày 15/07/2023 đến ngày 15/06/2024.

Kể từ ngày được giải ngân, bà V đã thanh toán 2.152.000 đồng (gồm tiền gốc: 30.003 đồng, tiền lãi: 2.109.997 đồng và phí thu hộ 12.000 đồng). Kể từ ngày 21/07/2023, bà V đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.

Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà V thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà V biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thúy V vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng bà V vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Nguyễn Thúy V thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tính từ ngày 16/08/2023 đến ngày 27/09/2024 là: 41.152.056 đồng (ngày chuyển nợ quá hạn là ngày 16/08/2023). Trong đó:

  • Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.368.927 đồng
  • Số tiền lãi trong hạn: 6.132.434 đồng
  • Số tiền lãi quá hạn: 13.100.101 đồng
  • Số tiền lãi chậm trả: 550.594 đồng

Cách tính lãi trên được căn cứ tại Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thúy V phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo Hợp đồng đã ký.

Công ty T1 xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thúy V trả nợ.

Bị đơn là Nguyễn Thúy V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng bà V đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của bà V đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bà V vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bà Nguyễn Thúy V phải trả ngay cho Công ty T1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 41.152.056 đồng. Trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.368.927 đồng; số tiền lãi trong hạn: 6.132.434 đồng; số tiền lãi quá hạn: 13.100.101 đồng; số tiền lãi chậm trả: 550.594 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thúy V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thúy V vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
  • + Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự, người đại diện ủy quyền có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, văn bản ủy quyền đúng quy định pháp luật.
  • + Về giải quyết nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thúy V phải trả ngay cho Công ty T1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 41.152.056 đồng. Trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.368.927 đồng; số tiền lãi trong hạn: 6.132.434 đồng; số tiền lãi quá hạn: 13.100.101 đồng; số tiền lãi chậm trả: 550.594 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thúy V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thúy V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thúy V (cư trú tại phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) trả số tiền đã vay theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) với bà Nguyễn Thúy V nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Nguyễn Thúy V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thúy V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thúy V thanh toán một lần số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 41.152.056 đồng. Trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 21.368.927 đồng; số tiền lãi trong hạn: 6.132.434 đồng; số tiền lãi quá hạn: 13.100.101 đồng; số tiền lãi chậm trả: 550.594 đồng ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về nợ gốc: Căn cứ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) với bà Nguyễn Thúy V, thì Công ty T1 cấp hạn mức tín dụng cho bà V với số tiền 21.398.930 đồng, mức lãi suất 62%/năm, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà V. Theo Hợp đồng tín dụng, bà V có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 12 tháng kể từ ngày 15/7/2023 đến ngày 15/6/2024.

Kể từ ngày được giải ngân, bà V đã thanh toán 2.152.000 đồng (gồm tiền gốc: 30.003 đồng, tiền lãi: 2.109.997 đồng và phí thu hộ 12.000 đồng). Kể từ ngày 21/7/2023, bà V đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Ngày 16/8/2023, Công ty T1 đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà V sang nợ quá hạn. Do bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T1 (Việt Nam) đề nghị Tòa án buộc bà V thanh toán số tiền nợ gốc là 21.368.927 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nợ lãi: Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) với bà Nguyễn Thúy V. Bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T1 tính lãi trong hạn, lãi chậm trả và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và tính lãi theo lãi quá hạn là có cơ sở. Do đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thỏa trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 của Công ty T1 (Việt Nam) để giải quyết. Căn cứ vào Điều 8.3 của Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) với bà Nguyễn Thúy V thì tính đến ngày 27/9/2024, bà V còn phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền lãi trong hạn: 6.132.434 đồng; số tiền lãi quá hạn: 13.100.101 đồng và số tiền lãi chậm trả: 550.594 đồng.

- Về thời hạn thanh toán: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và Công ty T1 cũng đã nhắc nhỡ nhiều lần nhưng bà V cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Công ty T1 yêu cầu bà V thanh toán toàn bộ số tiền nợ ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thúy V phải nộp là: 41.152.056 đồng x 5% = 2.057.603 đồng.

Công ty T1 (Việt Nam) không phải chịu án phí, hoàn lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QHQ3 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) đối với bị đơn Nguyễn Thúy V:

    Buộc bà Nguyễn Thúy V có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 41.152.056 (bốn mươi mốt triệu một trăm năm mươi hai ngàn không trăm năm mươi sáu) đồng, trong đó: nợ gốc là 21.368.927 đồng; số tiền lãi trong hạn 6.132.434 đồng; số tiền lãi quá hạn 13.100.101 đồng; số tiền lãi chậm trả 550.594 đồng.

    Việc thi hành được thực hiện một lần, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 28/9/2024, bà Nguyễn Thúy V còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này cho Công ty T1 (Việt Nam).

    Trường hợp trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4700776 ký ngày 16/6/2023, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty T1 (Việt Nam) thì lãi suất mà bà Nguyễn Thúy V phải tiếp tục thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty T1 (Việt Nam).

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thúy V phải chịu là 2.057.603 (hai triệu không trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm lẻ ba) đồng và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Hoàn lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 766.407 (bảy trăm sáu mươi sáu ngàn bốn trăm lẻ bảy) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026983 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Minh Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4749/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 4749/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Tài Chính A yêu cầu Nguyễn Thúy V thanh toán số tiền nợ thẻ. HĐXX chấp nhận yêu cầu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger