Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 474/20223/HS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trí

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu

Ông Nguyễn Xuân Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 362/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 160/2023/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Thổ H, sinh năm: 1991, tại tỉnh Đồng Nai;
  2. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Chơ ro; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thổ N, sinh năm: 1950 và bà Thị A, sinh năm: 1952; Vợ: Trần Thị Diễm C, sinh năm: 1992, có 01 người con, sinh năm: 2021.

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: Có 02 tiền án:

    • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2010/HSST ngày 29-9-2010, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19-3-2011, đến ngày 02-8-2023 mới thực hiện khoản tiền bồi thường.
    • - Tại Bản án số 89/2021/HS-ST ngày 22-9-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-12-2021.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14-6-2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Đ; (có mặt tại phiên tòa).

  3. Lâm Quốc H1, sinh năm: 1994, tại tỉnh Đồng Nai;
  4. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn D, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1977; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: Có 01 tiền án (Tại Bản án số 41/2021/HS-ST ngày 18-3-2021, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22-11-2021).

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13-01-2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Đ; (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
  2. Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 09-01-2023, Thổ H đến nhà của Hoàng Văn N1 thuộc ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai rủ đi trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài, N1 đồng ý. Thổ H điều khiển xe mô tô (Yamaha-Sirius, màu đen, không rõ biển số) chở Hoàng Văn N1 trên Tỉnh lộ 763 đến ngã 3 B thuộc xã S, huyện X, Thổ H chở Hoàng Văn N1 chạy vào đường hẻm. Đến khu rẫy trồng cây điều, Thổ H nói Hoàng Văn N1 đứng ngoài cảnh giới còn Thổ H đi vào nhà anh Đoàn Thế H2 thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 30 phút sau, Thổ H đi bộ đến chỗ của Hoàng Văn N1 đang chờ, đưa cho N1 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 9, màu xám; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S Plus, màu trắng, rồi cả hai đi về. Đến nhà, Thổ H nói Hoàng Văn N1 tìm chỗ bán lấy tiền tiêu xài, Hoàng Văn N1 đồng ý. Quá trình điều tra xác định: Sau khi thực hiện hành vi lấy trộm tài sản, về nhà Hoàng Văn N1 gọi điện thoại cho Lâm Quốc H1 đến mang đi bán 02 máy tính bảng, Lâm Quốc H1 đồng ý. Khi lấy 02 máy tính bảng Lâm Quốc Hùng hỏi “máy ở đâu”; Hoàng Văn N1 trả lời: “máy mới lấy” (Lâm Quốc H1 hiểu đây là tài sản lấy trộm). Lâm Quốc H1 mang máy tính bảng Ipad 6, màu đen đến bán cho anh Phạm Hồ H3 1.000.000 đồng. Lâm Quốc H1 đem về đưa cho Hoàng Văn N1 1.000.000 đồng, Thổ H cũng có tại đó. Hoàng Văn N1 đưa cho Thổ H 1.000.000đồng. Thổ Hùng chia cho Hoàng Văn N1 300.000 đồng và Lâm Quốc H1 150.000 đồng.

    Trị giá: 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 9, màu xám, đã qua sử dụng, trị giá 5.000.000 đồng; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad6, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng. Tổng cộng là 10.500.000 đồng.

    Vật chứng vụ án thu giữ:

    • - 01 (Một) cái máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 9, màu xám, ông Lâm Văn D (là cha ruột Lâm Quốc H1) giao nộp; 01 (Một) cái máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6, màu đen, anh Phạm Hồ H3 giao nộp và 01 (Một) cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S Plus, màu trắng, Hoàng Văn N1 giao nộp đã trả lại cho anh Đoàn Thế H2.
    • - 01 đôi dép bằng xốp số 41, màu xám đen, trên đôi dép có dán chữ Fashion, anh Đoàn Thế H2 giao nộp, anh nhặt được bên hông nhà của anh, nghi vấn là dép của đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bỏ lại.

    Tại bản Cáo trạng số 148/CT-VKSXL ngày 05-7-2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Thổ H, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự; Hoàng Văn N1, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự; Lâm Quốc H1, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự.

  3. Quyết định của cấp sơ thẩm:
  4. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 160/2023/HS-ST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã:

    • - Áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Tuyên bố bị cáo Thổ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

      Xử phạt: Thổ Hùng 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14-6-2023.

    • - Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điểm h, khoản 1, Điều 52; Điểm s, khoản 1, Điều 51, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

      Xử phạt: Hoàng Văn N1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2023.

    • - Áp dụng khoản 1, Điều 323; Điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Tuyên bố bị cáo Lâm Quốc H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

      Xử phạt: Lâm Quốc H1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2023.

    Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  5. Kháng cáo:
  6. Ngày 18 tháng 8 năm 2023, bị cáo Thổ H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 23 tháng 8 năm 2023, bị cáo Lâm Quốc H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

  7. Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
  8. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt,với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1 tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Thổ H về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Thổ H mức án 04 năm tù, bị cáo Lâm Quốc H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” xử phạt bị cáo Lâm Quốc H1 mức án 02 năm tù, là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, kháng cáo của các bị cáo không có cơ sở, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với tình tiết mới tại phiên tòa phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo tình tiết tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 09-01-2023, Thổ H điều khiển xe mô tô chở Hoàng Văn N1 đi từ xã X đến ngã 3 B chạy vào đường hẻm, thuộc xã S, huyện X, đến khu rẫy trồng cây điều. Hoàng Văn N1 đứng ngoài cảnh giới còn Thổ H đi vào nhà anh Đoàn Thế H2 thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 30 phút sau, Thổ H đi đến chỗ Hoàng Văn N1 chờ, đưa ra 01 cái máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 9, màu xám; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S Plus, màu trắng, rồi cả hai mang về. Đến nhà, Thổ H nói Hoàng Văn N1 tìm chỗ bán lấy tiền tiêu xài. Hoàng Văn N1 gọi Lâm Quốc H1 mang máy tính bảng Ipad 6, màu đen bán cho anh Phạm Hồ H3 1.000.000 đồng. Lâm Quốc H1 đem về đưa 1.000.000 đồng cho Hoàng Văn N1. Hoàng Văn N1 đưa cho Thổ H. Thổ Hùng chia cho Hoàng Văn N1 300.000 đồng và Lâm Quốc H1 150.000 đồng. Tổng trị giá tài sản các bị cáo lấy trộm là 10.500.000 đồng.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Thổ H không khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Lâm Quốc H1 tại phiên tòa sơ thẩm thay đổi lời khai, không nhận tội. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Thổ H và Lâm Quốc H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo Thổ H, bị cáo Lâm Quốc H1 tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo Hoàng Văn N1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Ngoài ra, đối với vật chứng vụ án bị thu giữ là đôi dép bằng xốp số 41, màu xám đen, trên đôi dép có dán chữ F để tại nhà của bị hại anh Đoàn Thế H2 cũng đã được bị cáo Thổ H thừa nhận là của bị cáo Thổ H để quên tại nhà bị hại (BL 239b).

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Thổ H và Hoàng Văn N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); bị cáo Lâm Quốc H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Với hành vi phạm tội nêu trên, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Thổ H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và bị cáo Lâm Quốc H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Kháng cáo của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo với mức án 04 (bốn) năm tù đối với bị cáo Thổ H và 02 (hai) năm tù đối với bị cáo Lâm Quốc H1 là tương xứng với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với toàn bộ hành vi phạm tội đã gây ra. Xét đây là tình tiết mới theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên vẫn giữ nguyên.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với một phần quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của các bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 160/2023/HSST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
  2. Căn cứ điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
    Xử phạt bị cáo Thổ H 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14-6-2023.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    Xử phạt bị cáo Lâm Quốc H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 13-01-2023.
  4. Về án phí: Các bị cáo Thổ H, Lâm Quốc H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Phòng PV06 – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 474/20223/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 474/20223/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 160/2023/HSST ngày 16-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc. Xử phạt bị cáo Thổ Hùng 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 14-6-2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger