|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 474/2024/DSPT Ngày: 14/11/2024 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
- - Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
- Bà Hà Thị Phương Thanh
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Ban – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- - Đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Trần Hồng Phil – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 264/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXPT-DS ngày 04/10/2024.
Do Bản án sơ thẩm số 64/2024/DSST ngày 24/6/2024 của TAND quận Bình Thủy xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A – Tổng Giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- - Ông Đào Kim B, Chuyên viên tố tụng - Trung tâm quản lý nợ.
- Bà Bùi Thị Thanh B1, Chuyên viên tố tụng - Trung tâm quản lý nợ.
- Văn bản ủy quyền ngày 17/10/2024 (có mặt).
- Địa chỉ: Số I C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh
- * Bị đơn: 1. Ông Tào Thanh T, sinh năm 1978.
- 2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1984.
- Cùng địa chỉ: Số C, khu dân cư A, đường C, khu vực 2, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: Ông Huỳnh N, sinh năm 1997 (có mặt).
- Địa chỉ: Số C, Nguyễn Văn C nối dài, phường A, quận N, thành phố Cần
Thơ. Văn bản ủy quyền ngày 25/10/2024.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP V (V1) (sau đây gọi là Ngân hàng V1) đã ký với Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.110521 ngày 11/05/2021 và Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.090621 ngày 09/06/2021, với nội dung chính như sau:
- Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.110521 ngày 11/05/2021
- Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
- Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động chi phí khác liên quan phục vụ kinh doanh mua bán than củi.
- Thời hạn vay: 12 tháng;
- Lãi suất cho vay (VND): 10%/năm, cố định trong 03 tháng đầu, từ tháng thứ 4 trở đi, lãi suất = LS cơ sở ngắn hạn + biên độ 2,8 %/năm.
- Số tiền V1 đã giải ngân và Bên vay đã nhận nợ: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng);
- Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.090621 ngày 09/06/2021:
- Số tiền vay: 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng);
- Mục đích vay: Thanh toán tiền mua BĐS tại thửa đất số 350, tờ bản đồ số 46, đường T, phường A, quận B, TP .
- Thời hạn vay: 180 tháng;
- Lãi suất cho vay (VND): 11,1%/năm, cố định trong 12 tháng, từ tháng thứ 13 lãi suất cho vay = LS cơ sở trung dài hạn + biên độ 4%/năm.
- Số tiền V1 đã giải ngân và Bên vay đã nhận nợ: 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng);
Tổng số tiền mà V1 đã giải ngân và ông Tào Thanh T, bà Lê Thị T1 đã nhận nợ: 2.150.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ một trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra, ông T và bà T1 đã ký và thực hiện các Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0005 ngày 11/06/2021, số NKI/21/0006 ngày 11/06/2021 và Giấy yêu cầu xử lý nghiệp vụ thẻ ngày 20/10/2022, nội dung cụ thể như sau: Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0005 ngày 11/06/2021 và Giấy yêu cầu xử lý nghiệp vụ thẻ ngày 20/10/2022:
- Chủ thẻ: Tào Thanh T, Hạn mức: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), Thẻ tín dụng đã được V1 phát hành cho Bên vay và Bên vay đã kích hoạt và sử dụng thẻ.
Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0006 ngày 11/06/2021: Chủ thẻ: Lê Thị T1, Hạn mức: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) Thẻ tín dụng đã được V1 phát hành cho Bên vay và Bên vay đã kích hoạt và sử dụng thẻ.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay:
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay trên, ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 đã tự nguyện thế chấp tài sản của mình cho V1, chi tiết như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 290, tờ bản đồ số 22 KDC Công ty CP Đ, thuộc Khu V, phường B, quận B, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 830980, số vào sổ cấp GCN CS 02822, do Sở T2 cấp ngày 15/06/2017, cập nhật thay đổi ngày 10/05/2021, thuộc quyền sử dụng của ông Tào Thanh T. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nói trên, ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho V1 (quá hạn ngày 15/01/2023). V1 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu trả nợ nhưng ông T và bà T1 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 21/06/2023, ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 còn nợ V1 số tiền: 2.871.430.388 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn ba trăm tám mươi tám đồng), chi tiết như sau:
- Nợ gốc khoản vay: 2.028.399.987 đồng
- Nợ lãi khoản vay: 410.192.738 đồng
- Phạt khoản vay: 119.120.342 đồng
- Tổng dư nợ: 2.557.713.067 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm mười ba nghìn không trăm sáu mươi bảy đồng)
Dư nợ Thẻ tín dụng ông Tào Thanh T:
- Dư nợ gốc: 99.644.262 đồng
- Lãi: 35.819.612 đồng
- Phạt: 75.819.138 đồng
- Tổng dư nợ : 211.283.012 đồng
Dư nợ Thẻ tín dụng bà Lê Thị T1:
- Dư nợ gốc: 48.887.856 đồng
- Lãi:16.828.459 đồng
- Phạt:36.717.994 đồng
- Tổng dư nợ: 102.434.309 đồng
Như vậy, đến thời điểm hiện nay, ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng và các văn bản đã ký với V1.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, V1 đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, TP . thụ lý vụ án và xem xét giải quyết các yêu cầu sau:
- - Buộc ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 thanh toán ngay cho V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 21/06/2024 là: 2.871.430.388 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn ba trăm tám mươi tám đồng)
- - Buộc ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 thanh toán cho V1 số tiền lãi, phạt và phí phát sinh theo lãi suất quá hạn tại các Hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 22/06/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, nếu ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ cho V1. Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho V1, thì ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Tại phiên tòa sơ thẩm Nguyên đơn vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như đã trình bày. Bị đơn vắng mặt.
Tại Bản án sơ thẩm số 64/2024/DSST ngày 24/6/2024 của TAND quận Bình Thủy đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1).
- Buộc bị đơn Tào Thanh T và Lê Thị T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi là 2.873.472.000 đồng (hai tỷ tám trăm bảy mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn). Nguyên đơn được tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.110521 Ngày 11/05/2021, Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.090621 ngày 09/06/2021 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0005 ngày 11/06/2021, số NKI/21/0006 ngày 11/06/2021 và Giấy yêu cầu xử lý nghiệp vụ thẻ ngày 20/10/2022 kể từ ngày 25/6/2024.
Khi bị đơn trả xong số tiền nợ thì nguyên đơn có nghĩa vụ xóa thế chấp, trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị đơn đã thế chấp để đảm bảo nợ vay. Nếu bị đơn không trả xong số tiền nợ trên cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 290, tờ bản đồ số 22 KDC Công ty CP Đ, thuộc Khu V, phường B, quận B, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 830980, số vào sổ cấp GCN CS 02822, do Sở T2 cấp ngày 15/06/2017, cập nhật thay đổi ngày 10/05/2021, thuộc quyền sử dụng của ông Tào Thanh T.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo theo qui định.
Ngày 25/7/2024 ông Tào Thanh T, bà Lê Thị T1 có đơn kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm xử không xem xét chứng cứ, quyết định của Bản án không đúng với các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn. Đề nghị sửa án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đại diện ủy quyền của người kháng cáo thay đổi nội dung kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại phần lãi phạt của các hợp đồng tín dụng và tín dụng thẻ.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và trình bày của các bên, nhận thấy giữa Ngân hàng V1 và ông T, bà T1 đã ký kết các Hợp đồng tín dụng nêu trên và phía nguyên đơn đã giải ngân cho phía bị đơn. Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng nêu trên, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phía nguyên đơn đã khởi kiện. Tạm tính đến ngày 25/12/2023 thì phía bị đơn còn nợ phía nguyên đơn tổng cộng là 2.626.302.761 đồng, trong đó nợ gốc khoản vay là 2.028.399.987 đồng, nợ lãi khoản vay là 286.081.434 đồng, phạt khoản vay là 70.023.343 đồng và nợ gốc thẻ tín dụng là 148.532.118 đồng, nợ lãi thẻ tín dụng là 34.449.833 đồng, phạt thẻ tín dụng là 58.816.046 đồng. Vì vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn. Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Xét về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ. Vì vậy, xác định tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và Bị đơn có địa chỉ tại quận B, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Bình Thủy theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn có mặt, chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại địa phương nên cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục giải quyết vắng mặt đương sự theo quy định là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các Bị đơn về việc đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là đồng nghĩa với việc xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tuy nhiên tại phiên tòa đại diện ủy quyền của Bị đơn thừa nhận số vốn của các hợp đồng tín dụng do Bị đơn đã ký với Ngân hàng, chỉ yêu cầu Tòa xem xét đối với phần lãi phạt trong các hợp đồng tín dụng, tín dụng thẻ và xin giảm phần lãi này.
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về đòi nợ theo hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng TMCP V (V1) với Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 đã ký Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.110521 Ngày 11/05/2021, Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.090621 ngày 09/06/2021 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0005 ngày 11/06/2021, số NKI/21/0006 ngày 11/06/2021 và Giấy yêu cầu xử lý nghiệp vụ thẻ ngày 20/10/2022 với nội dung phía Ngân hàng V1 cho phía ông T, bà T1 vay số tiền 2.300.000.000 đồng (trong đó tiền thẻ tín dụng là 150.000.000 đồng).
Xét thấy từ khi ông T, bà T1 vay tiền của Ngân hàng V1, đến nay chưa trả xong số tiền còn nợ nên Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông T, bà T1 trả số tiền vốn và lãi còn nợ. Trong quá trình khởi kiện, nguyên đơn cung cấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử đất, Giấy nhận nợ của bị đơn. Từ đó có đủ căn cứ xác định Bị đơn có nợ N1 là có thật.
Vì vậy, Bị đơn Tào Thanh T và Lê Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho Nguyên đơn số tiền vốn và lãi còn nợ. Tính đến đến ngày 21/06/2024, số tiền bị đơn còn nợ là: 2.871.430.388 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Trong đó, số nợ bao gồm vốn lãi của 02 hợp đồng tín dụng là 2.557.713.067 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm mười ba nghìn không trăm sáu mươi bảy đồng), số nợ bao gồm vốn lãi của 02 thẻ tín dụng là 313.717.321 đồng là phù hợp. Ngoài ra Nguyên đơn được yêu cầu tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng và Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng đã ký giữa nguyên đơn với bị đơn là phù hợp.
[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng thế chấp tài sản.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay trên, ông Tào Thanh T và bà Lê Thị T1 đã tự nguyện thế chấp tài sản của mình cho V1, chi tiết như sau:
QSD đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 290, tờ bản đồ số 22 KDC Công ty CP Đ, thuộc Khu V, phường B, quận B, TP . theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 830980, số vào sổ cấp GCN CS 02822, do Sở T2 cấp ngày 15/06/2017, cập nhật thay đổi ngày 10/05/2021, thuộc quyền sử dụng của ông Tào Thanh T. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực để thực hiện.
Trường hợp bị đơn không trả số tiền vốn và lãi suất phát sinh cho nguyên đơn thì nguyên đơn được quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp tài sản. Bị đơn không kháng cáo phần này.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm Bị đơn kháng cáo yêu cầu xem xét về phần lãi nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, hơn nữa khi ký kết các hợp đồng tín dụng đã có đề cập lãi khi vi phạm nghĩa vụ, Ngân hàng đã có chiết tính các khoản lãi theo Hợp đồng đã ký giữa các bên, nên không có cơ ở để xem xét đối với phần lãi này. Hơn nữa việc xin giảm lãi của Bị đơn tại Tòa không được Ngân hàng chấp thuận, nếu giai đoạn thi hành án Bị đơn có thiện chí trả nợ khi đó Ngân hàng sẽ đề nghị xét miễn giảm theo qui định của Ngân hàng. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.
[5] Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Về chi phí thẩm định: Số tiền 5.000.000 đồng, bị đơn phải nộp theo qui định. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định nên Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền này.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Nguyên đơn.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí.
Tuy nhiên trong phần Quyết định của Bản án cấp sơ thẩm tuyên có nhầm lẫn số tiền nên cần điều chỉnh lại.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của các Bị đơn.
- - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các Bị đơn.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1).
- Buộc bị đơn Tào Thanh T và Lê Thị T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi là 2.871.430.388 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi nghìn ba trăm tám mươi tám đồng). Trong đó gốc là 2.166.931.905 đồng, lãi là 704.498.483 đồng.
Nguyên đơn được tiếp tục tính lãi theo Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.110521 Ngày 11/05/2021, Hợp đồng tín dụng số: PNK.CN.01.090621 ngày 09/06/2021 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng số NKI/21/0005 ngày 11/06/2021, số NKI/21/0006 ngày 11/06/2021 và Giấy yêu cầu xử lý nghiệp vụ thẻ ngày 20/10/2022 kể từ ngày 25/6/2024.
Khi bị đơn trả xong số tiền nợ thì nguyên đơn có nghĩa vụ xóa thế chấp, trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị đơn đã thế chấp để đảm bảo nợ vay. Nếu bị đơn không trả xong số tiền nợ trên cho nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp như sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 290, tờ bản đồ số 22 KDC Công ty CP Đ, thuộc Khu V, phường B, quận B, TP . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 830980, số vào sổ cấp GCN CS 02822, do Sở T2 cấp ngày 15/06/2017, cập nhật thay đổi ngày 10/05/2021, thuộc quyền sử dụng của ông Tào Thanh T.
- Về chi phí thẩm định: Bị đơn chịu 5.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định nên Bị đơn phải nộp trả lại cho Nguyên đơn số tiền này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 89.469.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại 40.648.915 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002316 ngày 24/1/2023.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tào Thanh T, bà Lê Thị T1 mỗi người phải nộp 300.000 đồng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002871 và 0002872 cùng ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy thành án phí (nộp xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 14/11/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Dung |
Bản án số 474/2024/DSPT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 474/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
