|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 474/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-10-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hồ Bá Võ |
| Bà Nguyễn Thị Quế Anh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1994;
Địa chỉ cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Võ Thị P, sinh năm 1995;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: 277-0032 L, 1-4-17 N, thành phố K, tỉnh Chiba, Nhật Bản; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Công N, sinh năm 1971;
Bà Hoàng Thị K, sinh năm 1972;
Đều có địa chỉ cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bản trình bày, nguyên đơn anh Lê Văn D trình bày:
Anh và chị Võ Thị P kết hôn vào ngày 07 tháng 11 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân và đã ly thân một thời gian dài. Hiện nay, chị P đã đi lao động ở nước Nhật Bản. Cuộc hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Võ Thị P.
Về con chung: Anh và chị P có 01 con chung là Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018. Hiện con chung đang ở với cha mẹ chị P là ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K tại xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi con và nhờ cha mẹ là ông Lê Văn T và bà Lê Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng; không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, thời gian tới anh sẽ đi lao động sang Hàn Quốc nên chưa có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con, hơn nữa lâu nay con đang do cha mẹ chị P chăm sóc. Do đó, anh đồng ý để con cho chị P chăm sóc nuôi dưỡng và ở với cha mẹ chị P nhằm ổn định cuộc sống và học tập của con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc và thời gian tới anh D sẽ đi xuất cảnh lao động ở nước ngoài nên đã ủy quyền cho anh Lê Minh T2, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án, đồng thời anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản) bị đơn chị Võ Thị Phương trình B.
Ngày 07/11/2017, chị và anh Lê Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, thường xuyên cãi vã, không còn tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm rạn nứt. Hiện tại, vợ chồng đã ly thân, chị đang sinh sống và làm việc tại nước Nhật Bản. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh D làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh D có 01 con chung là Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018. Hiện con chung đang được cha mẹ của chị là ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến lúc trưởng thành và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Do chị đang lao động tại nước Nhật Bản nên chị tiếp tục nhờ ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi chị về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Võ Thị P hiện đang cư trú và làm việc tại nước Nhật bản không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho ông Võ Công N, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K có đơn trình bày:
Chị Võ Thị P là con của ông bà, chị P và anh D là vợ chồng. Hiện nay, chị P đang lao động tại nước Nhật Bản có địa chỉ cư trú tại: 2 L, 1-4-17 N, thành phố K, tỉnh Chiba, Nhật Bản. Trong quá trình chung sống, chị P và anh D có 01 con chung là Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018, đang được ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng từ năm 2019 cho đến nay. Việc chăm sóc cháu N1 là trách nhiệm nên ông bà không yêu cầu anh D và chị P phải trả công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Nếu chị P và anh D ly hôn thì ông bà mong muốn Tòa án giao cháu N1 cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng. Về phía ông bà sẽ tiếp tục nhận trách nhiệm nuôi cháu N1 trong thời gian chị P đang lao động ở nước ngoài. Đồng thời, ông bà đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K (cha mẹ của chị P) trình bày: Chị Võ Thị P là con của ông bà, chị P kết hôn với anh Lê Văn D và vợ chồng có 01 con chung. Hiện nay, chị P đang lao động ở nước Nhật Bản có địa chỉ cụ thể, thường xuyên liên lạc về gia đình qua mạng xã hội. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, ông bà đã thông tin cho chị P biết việc anh D nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì chị P đã có văn bản trình bày ý kiến, giấy ủy quyền, đơn đề nghị xét xử vắng mặt (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản) gửi cho Tòa án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn D và chị Võ Thị P. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các bên như sau: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P có 01 con chung. Giao cho chị Võ Thị P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị P đang ở nước ngoài nên ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K (cha mẹ của chị P) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Phương Bảo N1 cho đến khi chị P về Việt Nam với cháu N1. Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: chị Võ Thị P, ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh D không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về án phí: giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Lê Văn D có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Võ Thị P hiện đang cư trú ở nước Nhật Bản; trước xuất cảnh, chị P có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn chị Võ Thị P không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Lê Văn D đã ủy quyền cho anh Lê Minh T2, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Võ Thị P hiện đang cư trú tại nước Nhật Bản đã ủy quyền cho ông Võ Công N, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền (có xác nhận của Đ tại Nhật Bản) và chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K đã nộp đơn trình bày cho Tòa án và đều đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 07 tháng 11 năm 2017, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm, thường xuyên cãi vã, không còn tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm rạn nứt nên vợ chồng đã ly thân một thời gian dài. Hiện nay, chị P đã đi lao động ở nước Nhật Bản và không còn liên lạc với anh D. Do đó, anh D làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị P. Về phía chị P cũng đồng ý ly hôn, thỏa thuận nuôi con và không yêu cầu Tòa án chia tài sản theo yêu cầu ly hôn của anh D. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn D và chị Võ Thị P.
[3]. Về con chung: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P có 01 con chung. Nay ly hôn, anh D, chị P thỏa thuận: Chị Võ Thị P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị P đang ở nước ngoài nên ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K (cha mẹ của chị P) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Phương Bảo N1 cho đến khi chị P về Việt Nam với cháu N1.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Võ Thị P, ông Võ Công N, bà Hoàng Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
[5]. Về án phí: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T3 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn D và chị Võ Thị P.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Giao cho chị Võ Thị P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Phương Bảo N1, sinh ngày 17/02/2018 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị P đang ở nước ngoài nên ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K (cha mẹ của chị P) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Phương Bảo N1 cho đến khi chị P về Việt Nam với cháu N1
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Võ Thị P, ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Lê Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
4. Về án phí: Anh Lê Văn D phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012953 ngày 21/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho anh D số tiền tạm ứng án phí 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
Chị Võ Thị P phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn (chị P chưa nộp).
5. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn D và chị Võ Thị P có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Võ Công N và bà Hoàng Thị K có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 474/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 474/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
